Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã ghi lại ý kiến của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về vấn đề này.

GS, TS NGÔ ĐỨC THỊNH, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam:

Giáo dục công chúng tri thức về tín ngưỡng

Đạo Mẫu giai đoạn đầu gắn với nông nghiệp, người nông dân thờ Mẫu với tư cách là một vị thần phồn thực. Thờ nữ thần chính là vừa nhân thần hóa, vừa nữ tính hóa việc thờ tự nhiên. Cho nên, tự nhiên ở đây mang nữ tính. Một thời gian dài, tục thờ Mẫu gắn liền với ước vọng sinh sôi, nảy nở, lúa tốt, gia súc đầy đàn, đông con nhiều cháu. Đến thế kỷ 16, thời nhà Mạc, với sự phát triển của thương nghiệp, dần dần tục thờ Mẫu mang nặng tính thương nghiệp. Chỗ nào có đền thờ Mẫu là có chợ, có buôn bán. Những con đường có đền thờ Mẫu đều là những con đường buôn bán ngày xưa. Trên những con đường buôn bán, người phụ nữ đóng vai trò chính.

leftcenterrightdel
GS, TS Ngô Đức Thịnh. 

Trong công trình nghiên cứu về đạo Mẫu của tôi, tôi cũng nêu ra, đạo Mẫu Việt Nam, hiểu theo ý nghĩa rộng nhất là 3 lớp. Lớp thứ nhất là thờ nữ thần. Lớp thứ hai là thờ các mẫu thần. Lớp thứ ba thờ tam phủ, tứ phủ... Lớp thờ nữ thần và mẫu thần là văn hóa bản địa thuần Việt Nam, bắt đầu từ mẹ Âu Cơ và gắn với đời sống của người nông dân. Còn lớp thứ ba, trong lịch sử, thời Lý-Trần là “tam giáo đồng nguyên”, với vai trò của Phật giáo lớn hơn. Đến thời Lê, khi Lê Thánh Tông chấp nhận Nho giáo với tư cách là một công cụ để quản lý xã hội thì Đạo giáo và Phật giáo mất vai trò. Lúc đó, Đạo giáo và Phật giáo về với làng xã, với nông dân, kết hợp với những tín ngưỡng của nông dân để hình thành thứ tín ngưỡng dân gian. Đạo Mẫu tam phủ, tứ phủ chính là sản phẩm hình thành trên cơ sở yếu tố nội sinh là thờ mẫu thần và thờ nữ thần nguyên thủy, kết hợp với Đạo giáo Trung Hoa để tạo nên một tín ngưỡng mang dáng dấp một tôn giáo với cả một hệ thống vũ trụ luận về thế giới đồng nhất, hình thành quan niệm về một người mẹ vũ trụ, người mẹ tự nhiên.

Đó là sự kết hợp giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh để trở thành một tín ngưỡng dân gian. Đó cũng chính là cuộc đại hội nhập lần thứ nhất, tức là thời kỳ văn hóa Đại Việt tiếp nhận yếu tố bên ngoài.

Đến hiện tại, đạo Mẫu ở Việt Nam là một tín ngưỡng thích ứng với nhu cầu của xã hội hiện đại chứ không phải là tiếp xúc với các tín ngưỡng khác để tự đổi mới bản thân. Đó là khả năng trẻ hóa và thích ứng được với cái hiện đại mà chúng ta đang đi vào. Tất nhiên, không phải đạo Mẫu giỏi hơn những tín ngưỡng khác mà nó tìm được một mảnh đất mới trong xã hội hiện đại để có thể sống và sống tốt. Trong khi đó, một số tín ngưỡng khác không có được cái đó mà suy tàn và mất đi.

Việt Nam là đất nước đa tôn giáo. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta thực hiện hành vi tín ngưỡng mà chính chúng ta không hiểu mình đang làm cái gì, hành vi có trúng hay không, có lệch chuẩn hay không. Do không hiểu nên dễ bị lừa, bị dẫn vào những hành vi mê tín. Vì thế, cung cấp, giáo dục công chúng tri thức về tín ngưỡng là việc vô cùng cần thiết. Để làm được điều này cần thông qua hai kênh rất quan trọng. Thứ nhất là kênh giáo dục của nhà trường. Thứ hai là kênh thông tin đại chúng. Trong đó, có lẽ kênh thông tin đại chúng là hiệu quả nhất.

Các loại hình báo chí cần thông tin để công chúng có những hiểu biết, tâm thế đến với đời sống tín ngưỡng và lễ hội. Hơn nữa, công chúng cần có sự hiểu biết nhất định để khi đến với đời sống tín ngưỡng, họ thực hành theo tri thức đó, hiểu biết đó.

Để làm việc này, ngành văn hóa phải làm việc với truyền thông. Các nhà báo kết hợp với nhà khoa học tổ chức các bài viết, bài giới thiệu về những cơ sở tín ngưỡng, để người dân hiểu khi đến đó cần phải chuẩn bị tâm thế ra sao, phải có một sự hiểu biết như thế nào, đến đó làm gì, ước mong cái gì thì đến đâu...

Khi người dân hiểu, việc thực hành tín ngưỡng của họ sẽ chuẩn hơn. Mà để làm được điều đó thì không gì tốt hơn là truyền thông. Người dân rất hoan nghênh việc báo chí giới thiệu các di tích văn hóa, tín ngưỡng...

HUY ĐĂNG (ghi)

Thượng tọa THÍCH THỌ LẠC, Ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam:

Phật giáo không có khái niệm "dâng sao giải hạn"

Việc đầu năm đi lễ Phật để cầu an đã là truyền thống, là nghi lễ tín ngưỡng của dân tộc ta. Đối với Phật giáo, chúng ta là kính ngưỡng đức Phật. Kính ngưỡng ở đây không phải kính ngưỡng hình ảnh mà là kính ngưỡng tinh thần, tư tưởng, triết lý sống, lối sống của đức Phật, từ đó ứng dụng những điều đó vào đời sống để hướng thiện, xây dựng cho mình một nhân cách tốt đẹp.

leftcenterrightdel
Thượng tọa Thích Thọ Lạc. 

Vào những dịp lễ lớn và đầu năm, các chùa, các cơ sở Phật giáo thường có nhiều Phật tử tới dâng hoa quả, lễ bái. Một số chùa có những biểu tượng của Phật giáo như hình đức Phật, vòng tay... gọi là lộc để phát cho các đạo hữu, Phật tử. Những biểu tượng này mang tính chất tinh thần là chính. Lộc có ý nghĩa để mọi người nương theo hình ảnh, từ đó nghĩ đến tính sáng suốt, cao đẹp của đức Phật để hướng thiện. Do nhiều người không hiểu được ý nghĩa này, quan niệm đến chùa xin được nhiều lộc thì sẽ được nhiều may mắn, nhiều tài lộc nên mới khởi ra các hiện tượng chen lấn, tranh giành nhau. Hiện tượng này không những làm mất tính tôn nghiêm của cơ sở Phật giáo mà còn khởi tâm tham, sân, si. Khi đã khởi tâm tham, sân, si thì dẫu chúng ta đi cầu phúc, có lấy được nhiều lộc thì cũng là mặt hình thức mà thôi.

Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân dẫn tới sự chen lấn của Phật tử là bởi một số chùa hiện nay vẫn chưa có chương trình, kịch bản cụ thể khi phát lộc làm sao cho đúng tinh thần của Phật giáo. Nhiều thầy vẫn phát lộc mang đầy cảm tính. Trước khi phát, các chùa cần có sự phổ biến, hướng dẫn cụ thể cho các Phật tử về lộ trình cũng như hiểu rõ ý nghĩa của việc phát lộc.

Lễ nghi và lễ vật của Phật giáo khác với lễ nghi, lễ vật của tín ngưỡng dân gian. Nhiều đạo hữu, Phật tử do chưa nắm được nên đã áp dụng lễ nghi, lễ vật của tín ngưỡng dân gian vào đạo Phật. Tỷ dụ như việc đốt vàng mã, dâng lễ mặn, bia, rượu... Đạo Phật không dạy chúng ta đốt vàng mã, dâng lễ mặn, dâng bia, rượu. Bên cạnh đó, chùa là chốn tôn nghiêm, đạo hữu, Phật tử nên mặc quần áo chỉnh trang, trang nghiêm khi tới chùa.

Phật giáo không có khái niệm "dâng sao giải hạn". Khái niệm này là tín ngưỡng của Đạo giáo, của dân gian chứ không phải tín ngưỡng của Phật giáo. Phật giáo chỉ có "cầu an giải hạn". Tinh thần của cầu an giải hạn được chỉ rõ trong Kinh Dược sư. Đức Phật dạy, chúng ta muốn cầu an giải hạn thì phải nương vào hạnh nguyện, thiết lập đàn tràng, để tâm thanh tịnh và làm nhiều điều thiện, những việc phúc như phóng sinh, bố thí... Trong đó, việc làm điều thiện vẫn là cốt yếu. Có phúc đức mới chuyển được nghiệp, giải được hạn.

Nhiều nơi còn có hiện tượng đạo hữu, Phật tử giắt tiền vào tượng Phật. Phật đâu có cần tiền! Đó có thể xem là hành động hối lộ đức Phật, không tôn trọng đức Phật. Không những thế còn tạo cơ hội cho người khác khởi tâm tham. Đó là hành động chúng ta cần tránh khi đi lễ chùa.

Muốn có may mắn, có lộc, có sự bình an thì việc chúng ta cần làm nhất là phải giúp người khác có được sự may mắn, cho người khác có lộc, cho người khác có sự bình an. Làm được điều đó, an lạc sẽ tự đến với bản thân mỗi người. 

Đến với đạo Phật, mục tiêu phải là hướng tới tinh thần của đức Phật, nương vào đức tính của đức Phật để học hỏi, thực hiện theo với lối sống trong sáng.

HOÀNG LIÊN VIỆT (ghi)