Tóm lại là mỗi khi trở về nhà từ bệnh viện vào lúc chín giờ tối thì tôi không còn muốn ăn, uống hay ngủ ngáy gì nữa. Tôi chẳng muốn gì cả, ngoại trừ việc chẳng đặng đừng, có ai đó tới gọi tôi đi đỡ đẻ trong đêm. Thế mà chỉ trong vòng hai tuần, tôi đã phải đi trong đêm như vậy tới gần chục lần, tất nhiên là trên những chiếc xe trượt tuyết. Trong bóng đêm buốt lạnh và ẩm ướt, trước mắt tôi chỉ hiện ra lờ mờ một đường chỉ ngang, ngoằn ngoèo như một con giun cao, ngang tầm mũi. Trong đám sương mờ uốn lượn trong đêm đó, tôi sẽ tới thăm những ca bệnh mà biết chắc chẳng còn cơ hội.

Ở khoa nội trú, mỗi khi dừng bên giường bệnh, tôi sẽ lại vắt óc ra nghĩ xem sẽ phải làm gì. Những ngón tay tôi sẽ lại dò dẫm trên cơ thể hầm hập của người bệnh. Tôi sẽ lại nhìn sâu vào mắt, gõ gõ lên những dẻ sườn và nghe nhịp tim trong lồng ngực họ mà trong đầu chỉ có một ý nghĩ: Làm sao để cứu họ đây?

 Đó là cả một trận chiến luôn diễn ra từ sáng sớm mỗi ngày, trong thứ ánh sáng mờ đục của tuyết trắng và chỉ kết thúc khi ánh đèn vàng vọt chảy ra từ chiếc đèn bão nóng rực. Mỗi đêm, tôi lại tự hỏi: “Bao giờ thì trận chiến này mới kết thúc?”.

Tôi viết thư về Grachovka, nhắc lại một cách lịch thiệp rằng lẽ ra đã phải có thêm một bác sĩ nữa tới bệnh viện này cùng tôi. Lá thư được chuyển đi với vận tốc 40 dặm Nga một giờ trên xe trượt, qua cả một biển tuyết. Ba ngày sau, thư trả lời đã tới: “Tất nhiên, tất nhiên rồi. Chắc chắn là thế… chỉ có điều là không phải bây giờ… Hiện tại thì chưa có thêm bác sĩ”. Bức thư kết thúc với những dòng biểu dương công trạng và chúc tôi thành công hơn nữa.  Khích lệ bởi lá thư, tôi lại bắt đầu tiêm huyết thanh bạch hầu, chích những khối áp-xe có đường kính khủng khiếp, bó bột cho bệnh nhân…

*

*     *

Ngày thứ ba hôm đó, có tới một trăm mười một người bệnh tới bệnh viện. Kết thúc phẫu thuật vào chín giờ tối, tôi về nhà và ngủ gục trong ý nghĩ không hiểu ngày mai sẽ có bao nhiêu bệnh nhân tới khám. Trong giấc mơ, tôi thấy có tới tận chín trăm người.

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

Ban mai xuyên qua cửa phòng ngủ với một màu trắng kỳ lạ. Giọng nữ hộ sinh Pelageya Ivanovna vang lên: “Bác sĩ dậy chưa thế? Hôm nay anh không phải vội đến bệnh viện đâu. Tới giờ mới chỉ có hai bệnh nhân sâu răng thôi. Demyan Lukich sẽ nhổ răng cho họ. Đang có bão tuyết, bác sĩ ạ”.

Không hiểu sao tôi nhảy vọt ra khỏi giường: “Ồ, chắc chắn rồi…”.

Ngày thứ tư thật tuyệt! Sau khi thăm bệnh ở khoa, tôi dành phần lớn thời gian ở nhà, huýt sáo theo những giai điệu opera quen thuộc, hút thuốc và gõ ngón tay lên những cánh cửa sổ. Ngoài kia, bầu trời và mặt đất như không còn ranh giới; chỉ toàn một màu trắng vần vũ khắp mọi nơi, như thể lũ quỷ sứ đang lôi bột đánh răng ra nghịch vậy.

Tới trưa, tôi bảo đầu bếp Aksinya nấu một vạc nước nóng. Cả tháng nay tôi chưa tắm rồi. Nước nóng được đổ vào chiếc máng tắm lớn đặt trên nền nhà bếp. Ở huyện thì tất nhiên là chỉ có bệnh viện mới có phòng tắm, nhưng chúng cũng đã hỏng từ lâu.

Lúc đó là khoảng hai giờ chiều, tôi thì ngâm mình trong máng tắm, nói vọng ra với Aksinya: “Thế này thật tốt! Sau khi tắm xong, chúng ta sẽ ăn trưa, rồi sau đó thì ngủ một giấc. Nếu được ngủ đủ thì ngày mai tôi có thể khám cho một trăm năm mươi người?”.

Đột nhiên có tiếng đập cửa.

Aksinya gọi: “Bác sĩ, có người gửi tin nhắn”.

Mẩu giấy ghi:

“Gửi đồng nghiệp thân mến! Chúng tôi có một ca rất khẩn cấp, thực sự phải nhờ tới anh. Vợ chưa cưới của viên thư ký làng Shalometyevo vừa bị chấn thương vùng đầu, chảy máu mũi, máu miệng và đang hôn mê sâu. Tôi không biết phải làm gì. Mạch cô gái rất yếu, tôi đã dùng long não. Thực sự phải nhờ anh tới giúp”.

Một cách vô thức, tôi bước ra khỏi máng tắm và không biết mình đã mặc quần áo từ lúc nào. Mọi thứ đã sẵn sàng. Chờ tôi là một nhân viên cứu hỏa từ Shalometyevo. Bên ngoài cũng không đến nỗi quá ghê sợ, mặc dù trời đang tối dần khi chúng tôi xuất phát. Tuyết đã thưa đi chút ít. Cặp ngựa rất khỏe; chiếc xe lướt trên mặt tuyết lồi lõm. Tôi chui sâu vào trong xe để giữ ấm và miên man nghĩ về nguyên nhân dẫn đến tình trạng hôn mê của cô gái: Rất có thể một mảnh xương sọ bị vỡ đã đâm vào não.

 Tôi hỏi người lính cứu hỏa: “Viên bác sĩ ở đó đã làm những gì rồi?”.

Người lính cứu hỏa trả lời: “À, anh ta là bác sĩ hoa liễu nên… anh biết đấy”.

Tôi chìm vào giấc ngủ. Trong mơ, tôi thấy mình trở về với phòng tắm ở Moscow, vẫn mặc chiếc áo khoác lông trong phòng thay đồ, mồ hôi nhễ nhại. Đúng lúc đó, ánh đèn pin lóe lên, gió lạnh xộc vào. Tôi mở mắt và thấy mình đã ở nơi cần đến. Năm giờ chiều! Thế là chúng tôi mất hai tiếng rưỡi để di chuyển chứ không phải là một tiếng như người lính cứu hỏa bảo tôi trước đó.

Tôi bảo: “Cứ để sẵn ngựa để xong việc là tôi về luôn nhé”.

Tôi bước vào căn phòng nơi người bệnh đang nằm. Viên bác sĩ trẻ đứng dậy đón tôi, ánh mắt lộ rõ vẻ hoang mang và đau khổ: “Anh đến đây rồi… mạch cô ấy yếu đi rất nhanh. Tôi lại là bác sĩ hoa liễu… thật may là anh đã đến”. Từ bên ngoài vọng vào tiếng la khóc của viên thư ký. Căn phòng mờ mờ tối. Cô gái nằm trên chiếc gối màu xanh nhạt; gương mặt đã trắng bệch, bông nhét nơi mũi đã chuyển hồng. Viên bác sĩ trẻ thì thầm: “Gần như không còn mạch”.

Tôi cầm bàn tay đã không còn dấu hiệu của sự sống lên và ngay lập tức thấy trong lòng nhói lạnh-thứ cảm giác tôi luôn có khi cảm nhận được cái chết đã đến rất gần. Tôi bảo viên bác sĩ: “Cô ấy chết rồi”.

Không ai nói câu gì, chúng tôi đưa viên thư ký sang một phòng khác. Viên bác sĩ nói: “Tôi không thể kiềm chế nổi anh ta đâu”. Tôi bảo viên thư ký: “Nếu anh không đồng ý để chúng tôi tiêm thì chúng tôi cũng không thể làm được gì nữa. Anh đang khiến chúng tôi không thể thực hiện được công việc của mình”.

Viên thư ký thút thít, đồng ý cởi áo khoác để chúng tôi tiêm một mũi morphine. Mười lăm phút sau, tiếng thút thít đã tắt hẳn. Viên thư ký rơi vào giấc ngủ, nước mắt vẫn chảy tràn xuống cánh tay.

Khi đưa tôi ra ngoài phòng khách, viên bác sĩ bảo tôi: “Đường về bây giờ rất nguy hiểm, có thể sẽ bị lạc đường. Anh nên ở lại…”.

- “Không, tôi phải về. Có ba bệnh nhân đang bị sốt Rickettsia và tôi không thể bỏ họ được. Đêm nay tôi phải kiểm tra tình trạng của họ”.

Chúng tôi nhanh chóng khởi hành. Chỉ một phút sau, cả khu làng Shalometyevo đã biến mất, như trong một giấc mơ. Điều này khiến tôi lo lắng. Tôi thò đầu ra ngoài nhưng phải thụt vào ngay. Không khí bên ngoài thật kinh khủng. Tôi chúi xuống đám cỏ khô dưới xe, nhắm mắt ngẫm nghĩ: Cuộc đời tôi thật là vất vả! Giờ này mọi người đang ngủ bên lò sưởi ấm áp, còn tôi thì đang lao qua cơn bão tuyết như một chiếc lá. Mà có trời mới biết là sau khi về đến nhà có còn ai đến gọi tôi đi nữa hay không. Tôi sẽ lại lướt đi trong bão tuyết. Chỉ mình tôi là bác sĩ, nhưng có tới hàng nghìn bệnh nhân… Cứ thế, tôi chìm vào giấc ngủ cho tới khi choàng mở mắt và nhận thấy xe đã dừng lại.

Tôi hỏi vọng ra: “Chúng ta đến nơi rồi sao?”.

Người lính cứu hỏa đột nhiên nhảy xuống xe, nói: “Lẽ ra anh nên nghe lời mọi người… Chúng ta và lũ ngựa sẽ chết rét mất thôi… Không còn biết đâu là đường nữa. Chúng ta đã đi bốn tiếng rồi mà chưa tới… Giờ thì phải làm sao đây?”.

Tôi leo ra ngoài và thụt ngay xuống lớp tuyết dày đến đầu gối. Mấy con ngựa đang mắc kẹt trong đám tuyết cao tới ngang bụng. Chúng đã thấm mệt. Tôi nghiến răng: “Chúng ta không được nản chí. Lũ ngựa đã nghỉ được một lúc rồi, giờ chúng ta phải tiếp tục tiến lên. Anh lội bộ, giữ cương kéo lũ ngựa, tôi sẽ lái. Chúng ta phải rời khỏi chỗ này, nếu không tuyết sẽ lấp kín chúng ta mất”.

Người lính cứu hỏa kéo lũ ngựa, gầm lên: “Lên nào!”. Tôi cũng hòa theo, tay vụt mạnh dây cương. Chiếc xe chậm chạp bò ra khỏi vũng tuyết. Cứ thế, khoảng mười lăm phút sau thì chiếc xe di chuyển nhẹ nhàng hơn.

Người lính cứu hỏa vui mừng: “Có lẽ chúng ta lên mặt đường rồi. Nếu không bị lệch hướng nữa thì chúng ta có thể sẽ…”.

Bão tuyết đang suy yếu, còn lũ ngựa thì đã khỏe trở lại. Nhưng có âm thanh gì đó kỳ lạ vang lên, rồi mất hút trong không gian vắng lạnh. Từ hai bên đường xuất hiện những chấm đen. Người lính cứu hỏa quay lại bảo: “Anh có nhìn thấy không, bác sĩ?”.

Lũ ngựa hoảng sợ, thở phì phì và chạy thật lực. Tuyết bay tung tóe! Những chấm đen nhanh chóng hiện hình: Chó sói! Tôi ớn lạnh, thò tay rút khẩu Browning và tự sỉ vả bản thân vì đã không mang thêm băng đạn dự trữ. Có lẽ ngày mai người ta sẽ đăng thông báo về tôi và người lính cứu hỏa xấu số trên báo cũng nên…

Tôi la lên: “Bám cho chắc và ghìm cương lũ ngựa thật chặt vào!”.

Một chớp lửa lóe lên. Tiếng nổ chát chúa xé nát không gian. Tôi ngã lộn trong xe. Cứ thế, tôi ngã, đứng lên, rồi bắn, cho tới khi người lính cứu hỏa hét lên: “Tới rồi… tới đây rồi… Chúa ơi... sống rồi…”.

 Ánh đèn lờ mờ từ bệnh viện hắt ra lúc này mới lung linh làm sao, đẹp hơn tất cả mọi lâu đài tráng lệ nào trên Trái Đất. Trong niềm sung sướng vô bờ, tôi bắn thêm hai viên đạn về phía lũ sói đã lùi xa.

*

*       *

 Đứng giữa tầng một và tầng hai khu nhà bác sĩ, người lính cứu hỏa bảo tôi và Aksinya: “Có cho tôi cả núi tiền tôi cũng không dám lặp lại chuyến đi thế này nữa…”.

 Nửa giờ sau, tất cả đã trở lại tĩnh lặng. Chui vào chăn, tôi lẩm bẩm: “Có cho mình cả núi tiền thì…”.

Ngoài kia, cơn bão tuyết lại rít lên như đáp lời: “… thì anh cũng sẽ đi… đúng thế, anh vẫn sẽ đi tới với người bệnh…”. Nó rít lên, xuyên qua từng khe cửa, ống khói, mái nhà và biến mất.

Chiếc đồng hồ tích tắc, tích tắc nhắc lại: “… thì anh vẫn sẽ đi… thì cũng vẫn đi thôi…”.

Tôi chìm vào giấc ngủ. Tĩnh lặng!

Truyện ngắn của Mikhail Bulgakov (Nga).

ĐĂNG KHÔI (dịch)