Ở Việt Nam, sau phong trào Thơ mới, thơ hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc là một thời kỳ đổi mới mạnh mẽ. Những sự thay đổi của Thơ mớisang thơ kháng chiến chống Pháp thể hiện rất rõ, đặc biệt là sự “lột xác” của các vị “chủ tướng” Thơ mới. Họ đã đi từ cái tôi bé nhỏ, cô đơn, bế tắc đến với cái ta lớn lao, cường tráng, hừng hực sức sống của dân tộc. Cũng đồng nghĩa với việc đi từ thung lũng đau thương ra cánh đồng vui (chữ của Chế Lan Viên). Từ thơ chống Pháp đến thơ chống Mỹ cũng là sự tiếp nối cách tân không chỉ là hình thức thơ mà cả lực lượng người viết với một đội ngũ hùng hậu. Trong đó nổi bật là người lính Trường Sơn Phạm Tiến Duật đã đưa thơ từ điệu ngâm sang điệu nói và hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ cũng đã khác xa thời kháng chiến chống Pháp.

Sân thơ truyền thống của Ngày thơ Việt Nam lần thứ XVI-Nguyên tiêu Mậu Tuất 2018. Ảnh: Hữu Đố

Sau năm 1975, đất nước thống nhất, thơ ca đã có sự điều chỉnh nhất định. Nếu miền Bắc thiên về hướng ngoại thì giờ đây tăng cường hướng nội. Nếu ở miền Nam trước thiên về cái tôi, hướng nội thì giờ đây tăng thêm hướng ngoại, hướng tới cái ta. Tiếp đến là thời kỳ Đổi mới, xuất hiện kinh tế thị trường. Có thể nói đây cũng thời kỳ “cởi trói” cho văn nghệ sĩ. Và một cuộc đổi mới thơ ca đã bắt đầu, có thể nhận diện qua mấy xu hướng chính như sau:

Xu hướng viết trường ca là một xu hướng nhắm vào sự đổi mới hình thức. Nhiều tác giả sau các bài thơ, các tập thơ in riêng, muốn dồn sức để thơ nói về một vấn đề lớn, có sức khái quát, ôm trùm lớn. Họ muốn chứng tỏ bút lực của mình, muốn làm mới mình, muốn sử dụng mọi yếu tố kỹ thuật. Có một số nhà thơ trước đó đã viết trường ca nhưng không tiếp tục nữa, như: Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đăng Khoa, Ma Trường Nguyên… Một số người trước đó đã viết trường ca nay tiếp tục những tác phẩm mới, như: Hữu Thỉnh (Trường ca biển, 1994, Sức bền của đất, 2004); Thanh Thảo (Những ngọn sóng mặt trời, 1994; Metro, 2009; Chân đất, 2012)... Có người lần đầu viết rồi gắn bó với trường ca như Trần Anh Thái  (Đổ bóng xuống mặt trời, 1999;  Trên đường, 2004;  Ngày đang mở sáng, 2007); Lê Thị Mây (Lửa mùa hong áo, 2003; Côn Đảo, 2009); Nguyễn Anh Nông (Trường Sơn, 2009; Gửi Bill Gates và trời xanh, 2011; Trò chuyện với cha con Cu Lập Sơn, 2012)… Có người chỉ một lần tạt qua trường ca, như: Đặng Nguyệt Anh (Trường ca Mẹ, 1994); Mai Nam Thắng (Cổ tích làng cát, 2004); Lê Ngọc Bảo (Tiếng hát một dòng sông, 2005); Nguyễn Vũ Tiềm (Văn đàn bi tráng, 2008), Nguyễn Viết Chữ (Hát dọc cánh rừng già, 2010) v.v.. Tuy nhiên, nếu xem trường ca như một thể loại thì chúng chỉ mới được du nhập vào Việt Nam chưa lâu. Lý thuyết về thể loại này cũng chưa có hệ thống và bài bản. Vì vậy nói đến cách tân trường ca có thể là hơi sớm.

Xu hướng viết thơ ngắn tuy không có tuyên bố gì ghê gớm, nhưng các nhà thơ hầu như đều thử sức với thể thơ ngắn. Bởi lẽ thơ ngắn là sự diễn tả cảm xúc cô đọng, dễ nhớ, dễ thuộc. Mặt khác, thời của thông tin bùng nổ, thơ ngắn rất thích hợp để quảng bá vì tốn ít diện tích, tốn ít thì giờ của người đọc. Nếu Nhật Bản có thơ Haiku (3 dòng 17 âm tiết), Trung Quốc có thơ tứ tuyệt (4 câu) thì Việt Nam cũng đã có ca dao 2 câu. Chỉ 2 câu 6 và 8 gồm 14 âm tiết, chúng ta đã có những bài ca dao độc đáo như những viên ngọc sáng trong kho tàng thơ ca đất nước. Bây giờ các tác giả làm thơ hai câu không nhất thiết phải là 6 và 8. Thơ ngắn có thể là 2 câu, nhưng cũng có thể là 3 câu, 4 câu. Thậm chí thơ ngắn có thể chỉ 1 câu (nhưng hiếm, bởi vì nó dễ bị nhận nhầm sang tục ngữ). Chí thú với thơ 3 câu có Nguyễn Ngọc Ký (tập thơ Khoảnh khắc, 2001). Tìm tòi thơ ngắn có Nguyễn Hoa (tập Từ một đến tám, 1997). Một cây bút thơ viết ngắn khác là Mai Quỳnh Nam. Anh nghiêng về triết luận với các tập: Bước trượt (1995); Các sự việc rời rạc (2002); Phép thử thuật tư biện (2007); Biến thể khác (2012); Không thiên vị (2014)...

Xu hướng cách tân dựa vào ảnh hưởng của thơ nước ngoài. Đứng đầu danh sách khá dài này là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Bắt đầu bằng tập thơ Sự mất ngủ của lửa (1992) gây tranh cãi ồn ào. Nguyễn Quang Thiều kiên trì theo hướng cách tân đã chọn. Các tập thơ sau này của anh: Người đàn bà gánh nước sông (1995); Nhịp điệu châu thổ mới (1997); Bài ca những con chim đêm (1999); Cây ánh sáng (2009); Châu thổ (2010)... khẳng định xu hướng cách tân của vị “chủ soái” đổi mới thơ. Viết theo xu hướng này ở mức độ nhiều ít khác nhau, có thể kể thêm Mai Văn Phấn, Giáng Vân, Đinh Thị Như Thúy, Phạm Đương, Tuyết Nga…

Xu hướng quay trở lại những thể thơ truyền thống vẫn được nhiều nhà thơ hưởng ứng. Ngay cả người hăng hái đổi mới thơ như Trúc Thông, vẫn làm lục bát với Bờ sông vẫn gió. Nguyễn Quang Thiều cũng viết lục bát rất nhuần nhụy và hay. Hầu như nhà thơ nào cũng thử sức với thể tài này. Một số tác giả viết nhiều lục bát có thể kể: Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Thế Kiên, Lê Tiến Vượng, Xuân Đam, Đỗ Trọng Khơi, Văn Thùy… Còn có cả một trang mạng thơ lục bát khá nhộn nhịp do nhà thơ Đặng Vương Hưng sáng lập. Các nhà thơ nổi bật như: Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Trần Ninh Hồ, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến… đều có thơ lục bát.        

Trên đây chỉ là tạm phân chia ra các xu hướng như thế để chúng ta dễ dàng hình dung. Ngoài ra còn có một xu hướng khác không theo hẳn xu hướng nào kể trên, xin được gọi là xu hướng độc lập. Các nhà thơ lặng lẽ đổi mới thơ mình, trước hết là đổi cách nhìn đời, đổi cách cảm xúc, đổi cách trình bày hình ảnh, đổi cách diễn đạt câu chữ. Họ là số đông các nhà thơ mà tên tuổi đã quen thuộc với công chúng. Khoảng mươi năm gần đây còn xuất hiện xu hướng thơ mạng. Một số nhà thơ, nhà văn cũng lập các trang riêng của cá nhân hoặc nhóm; hoặc là có đăng ký bản quyền trang web, hoặc là dạng blog, hoặc facebook... Nhiều nhà thơ sau một thời gian công bố thơ trên mạng đã chọn lọc in thành tập thơ thành sách bình thường. Một số bài thuộc xu hướng này được cộng đồng mạng tán thưởng và khi in thành sách cũng được chú ý.

Chúng ta cần ghi nhận tất cả những cố gắng của các nhà thơ đã thành danh và chưa thành danh, các nhà thơ đã có vị trí không thể thay thế trên thi đàn và những nhà thơ đang lặng lẽ phấn đấu để có được sự đóng góp xứng đáng. Dù là đổi mới theo cách nào, cuối cùng vẫn là phải tạo ra được những bài thơ hay. Bởi cái đích cuối cùng của sự đổi mới là để có thơ hay. Cách tân thơ là một công việc khó, đòi hỏi thời gian và tài năng, đồng thời đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ. Không vì thiếu vắng những tập thơ thật hay, không vì một vài tập thơ được giải thưởng rồi mất hút trong đời sống văn học mà nghĩ rằng cách tân đã thất bại hoặc bài xích thơ cách tân.

PGS, TS VŨ NHO