Cồng chiêng là nhạc cụ nghi lễ

Hai vấn đề trọng tâm trên đây của hội thảo là những vấn đề vừa rất vĩ mô, lâu dài, vừa rất cấp thiết và... đã từng được đề cập tại nhiều diễn đàn. Ai cũng biết: Cồng chiêng được sinh ra từ một thời đại khác, để làm những việc khác. Ngày nay gọi là “cồng chiêng của Tây Nguyên” nhưng bản thân người Tây Nguyên lại không làm ra cồng chiêng. Họ đi đổi về, từ người Việt, người Lào, người Mã Lai... bằng voi và trâu, thậm chí là voi và trâu trắng là những linh vật của đồng bào Tây Nguyên. Nhưng có hai lý do để biến cồng chiêng thành của Tây Nguyên: Một là, Tây Nguyên sinh ra những nghệ nhân chỉnh chiêng để từng cái cồng-chiêng riêng lẻ hợp cùng nhau thành một dàn cồng chiêng. Không có những nghệ nhân này, cồng chiêng vẫn chỉ là những thứ... nhạc khí bình thường như bao nơi khác có chiêng. Hai là, Tây Nguyên có một không gian tuyệt vời để cồng chiêng tồn tại. Và UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là công nhận cái không gian này chứ không phải cho những cái cồng-chiêng cụ thể ở Tây Nguyên.

leftcenterrightdel
Dàn cồng chiêng truyền thống...

Cồng chiêng khởi thủy chưa chắc đã là nhạc cụ như ngày nay, dù người Tây Nguyên rất tài trong việc chế tác ra các nhạc cụ để tự thỏa mãn nhu cầu của mình, từ tre, nứa, đất, đá v.v.. Có thể ban đầu cồng chiêng mang chức năng thông tin chẳng hạn. Từng nhà xa nhau, làng này làng kia xa nhau, tiếng cồng chiêng báo tin cho nhau là tiện nhất, thay cho tiếng hú, tiếng tù và trước đó. Rồi cồng chiêng trở thành của cải, được trữ như trữ của cải trong mỗi gia đình, cộng đồng... Và cứ thế, cồng chiêng trở thành nhạc cụ như hôm nay. Mà nhạc cụ của Tây Nguyên ban đầu cũng là nhạc cụ nghi lễ chứ chưa phải là dàn cồng chiêng cải tiến một người đánh cả dàn nhạc mới như sự “phát triển” gần đây. Nhiều già làng đã phải thốt lên: Như thế là không được đâu, không tốt đâu! Nghĩa là, cồng chiêng có không gian của nó chứ không phải chỗ nào cũng có thể mang ra mà đánh.

Một Festival cồng chiêng thành công là phải trên cơ sở tôn trọng không gian, tôn trọng nguồn gốc, giữ cồng chiêng ở nơi chính nó sinh ra và tổ chức cồng chiêng đúng là của nhân dân và do nhân dân là chủ thể. Cồng chiêng không phải là phụ họa, lại càng không phải là lễ hội mà nó chỉ là thành tố của lễ hội. Tất nhiên, vai trò của các nghệ nhân, già làng được triệt để phát huy. Đặc biệt, vai trò tác động, quản lý, tổ chức của Nhà nước mà trước hết là của ngành văn hóa rất quan trọng. Và như thế thì lễ hội dân gian không còn tập trung ở thành phố nữa mà sẽ tỏa về huyện, về làng. Không tập trung cũng có nhiều cái khó, nhưng cái được là cái hồn, cái cốt của cồng chiêng, của lễ hội, nó tươi tắn và giữ nguyên. Nó được gắn với không gian mà nó sinh ra và tồn tại. Nó được bền quyện với làng, với suối, với những thảm cỏ xanh mượt, với trời xanh ban ngày trăng sáng ban đêm...

Không gian làng và rừng

Tây Nguyên có nhiều dân tộc anh em. Từng dân tộc có không gian làng khác nhau. Ví dụ người Xê Đăng thường chọn vùng núi cao, độc đạo để ở. Người Ba Na thì ngược lại, chọn những khu đất thoải và bằng lập làng, luôn kề suối hoặc những nơi có nước. Nhà rông của hai dân tộc này cũng rất khác nhau: Nhà rông Xê Đăng thì cao vút, uy dũng tạc vào trời xanh; nhà rông Ba Na thì thấp hơn, hài hòa, nhiều đường cong và gần gũi con người hơn, như gà mẹ ấp iu bên lũ gà con là những ngôi nhà sàn lúp xúp xung quanh. Không gian sống, tính cách sống, hoàn cảnh sống... quy định tính chất của cồng chiêng dân tộc ấy. Bật khỏi không gian ấy, cồng chiêng thành một thứ nhạc cụ trình diễn. Mà trình diễn thì các nghệ sĩ chuyên nghiệp miền xuôi có khả năng hơn rất nhiều.

Tây Nguyên đã khác trước khá nhiều. Lâu nay chúng ta đã cố làm rất nhiều cho Tây Nguyên, có những chương trình rất lớn cho Tây Nguyên, nhưng có vẻ như những gì mà Tây Nguyên được hưởng lại chưa tương xứng với những gì bỏ ra. Một hệ thống thiết chế văn hóa với những ngôi nhà rông đầu tư tốn kém đã bị bỏ không nhiều năm, nhiều cái đã dần mục nát. Một số mô hình khác, như xây nhà trệt; xóa bỏ tục đóng khố; dời làng tái định cư... nếu không cẩn thận cũng sẽ gây ra những hệ lụy rất lớn. Tôi bỗng nhớ những ngôi làng rờ rỡ trong trăng lạnh mùa khô tôi từng nhiều đêm thức cùng nó thời kỳ đầu mới lên Tây Nguyên những năm 80 của thế kỷ trước. Ôi cái thời trong veo bỡ ngỡ, giờ nhiều lúc muốn mơ về mà khó! Tôi chợt ước nhân dịp Festival này, chúng ta tổ chức lại những ngôi làng như thế. Mùa khô, gió lồng lộng, cồng chiêng và xoang, những cặp chân díu vào cỏ, những cánh tay trần vươn trong trăng, những nụ cười như muốn xô lệch không gian... Và trên hết, tiếng cồng chiêng lan tỏa trong không gian ấy như mềm ra, như vút lên, như níu lại, như tan cùng gió, hòa vào trăng miên man cùng cao nguyên mê hoặc...

Festival cồng chiêng Tây Nguyên có thể coi như một cuộc đánh thức phần hồn của Tây Nguyên bằng cồng chiêng. Nhưng hãy nhớ, không có lễ hội cồng chiêng mà cồng chiêng chỉ là một thành tố của lễ hội nào đó. Nó là một phần bắt buộc phải có của lễ hội chứ bản thân nó không phải và chưa bao giờ là một lễ hội hoàn chỉnh. Và Tây Nguyên còn nhiều thứ nữa gắn quện, bền chặt để làm nên đời sống văn hóa tinh thần Tây Nguyên. Vật chất Tây Nguyên có thể thô sơ, đơn giản, nhưng thế giới tinh thần thì ăm ắp năng lượng văn hóa. Đó là những thứ vừa mỏng manh vừa bền vững, vừa khoảnh khắc vừa trường tồn, vừa nhạy cảm vừa quy củ... để nó đã hiện diện trên cõi đời này hàng vạn năm, tham gia song hành, tồn tại và định hướng đời sống con người vùng đất này từ thuở ấy đến giờ...

Và không chỉ cồng chiêng

Tây Nguyên giờ đang có rất nhiều thay đổi. Và đấy là sự thay đổi không thể khác, sự thay đổi vì sự phát triển, thay đổi để phát triển. Nhưng nó cũng đang mắc “hội chứng nhân loại”, ấy là phát triển nóng. Làng không còn như xưa. Rừng không còn như xưa. Đời sống cũng không như xưa, sinh hoạt không như xưa... Vậy thì còn không gian nào cho cồng chiêng và các loại hình nghệ thuật dân gian khác? Bởi phàm là các loại hình nghệ thuật dân gian thì nó phải phù hợp với thời đại và không gian của nó. Lại nhớ cách đây gần hai chục năm, chúng tôi xuống làng Hơrn, một ngôi làng Ba Na rất đẹp của huyện Kông Chro, tỉnh Gia Lai tìm anh Đinh Gang, một nghệ nhân biết đến nghệ thuật Hơ amon (khan, H’ri, trường ca). Chúng tôi phải tắt điện, đốt lửa trong nhà cho anh nằm kể để ghi âm. Anh Đinh Gang là một trong số những nghệ nhân cuối cùng của vùng này. Đến nay, Đinh Gang cũng đã ra đi. Nhắc đến anh là bởi nghệ thuật Hơ amon này muốn tồn tại thì trước hết phải có nghệ nhân. Loại này cực hiếm nhưng không phải không có, có làng có đến mấy người. Họ phải là người có trí nhớ tuyệt vời để nhớ những câu chuyện hàng mấy đêm, nhưng họ cũng phải hết sức thông minh và có tố chất sáng tác bởi để thêm thắt, để câu chuyện luôn luôn mở, không lặp lại. Và họ phải là nghệ sĩ biểu diễn. Chỉ mình họ đóng được tất cả các câu chuyện trong Hơ amon, cả bằng giọng và động tác. Nghệ nhân nằm hoặc ngồi, lửa phập phù in các động tác của họ lên vách, đấy là sân khấu. Và nghệ nhân đọc, hát, kể, hú hét... giả giọng của tất cả các nhân vật. Nghệ nhân sống cùng nhân vật và dân làng cũng ngả nghiêng, sụt sịt cùng nhân vật. Cả làng tối om, chỉ còn đống lửa phập phù trong nhà sàn ấy, nơi ấy trở thành nhà hát lộng lẫy, thành thiên đường cổ tích, thiên đường nghệ thuật.

leftcenterrightdel
Đội cồng chiêng phục vụ khách du lịch ở TP Pleiku, tỉnh Gia Lai. Ảnh: HUY TỊNH

Các loại hình nghệ thuật dân gian khác cũng thế. Và cồng chiêng Tây Nguyên cũng không thể khác. Nghe nói Ban tổ chức có ý định chia Quảng trường Pleiku ra nhiều ô, giao cho mỗi đội chiêng một ô. Nhưng liệu các nghệ nhân của các đội ấy có biến cái ô được phân ấy thành không gian của cồng chiêng không? Cồng chiêng và Festival cồng chiêng giờ được gắn với du lịch. Đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức. Tỉnh Gia Lai từng có chủ trương mua cấp cho mỗi làng một bộ cồng chiêng. Chưa tổng kết đánh giá nhưng cách này chưa chắc đã hay. Bởi như đã nói, cồng chiêng là vật thiêng, người Tây Nguyên quan niệm vạn vật hữu linh. Cồng chiêng là nơi các vị thần trú ngụ. Mỗi khi hạ cồng chiêng xuống là phải cúng rất cẩn thận. Nhiều khi trong đời sống, sự linh thiêng hóa làm cho cuộc sống bí ẩn hơn, nó làm cho con người phải tử tế và cẩn trọng hơn. Bây giờ cồng chiêng như một công cụ phục vụ người xem để thu tiền, thì thái độ của dân làng với cồng chiêng sẽ khác, nó mất đi sự bí ẩn linh thiêng. 

Tổ chức Festival cồng chiêng là dịp ít nhất làm cho mọi người nhớ rằng Tây Nguyên có cồng chiêng và có không gian của cồng chiêng. Vấn đề là sau đấy, tìm ra những cách để nó tồn tại, vừa hợp lý nhưng lại không thô bạo, hợp tình nhưng cũng không khiên cưỡng để nó sống đời sống của nó, vì nó và cho nó, tức là cho những người cần nó trong sự hài hòa với sự phát triển hiện đại và văn minh...       

Nhà văn VĂN CÔNG HÙNG