I. Nửa đầu năm 2018, tôi bắt đầu trở về miền ký ức từ vòng cung Tây Bắc. Đây là một chuyến đi bè bạn với nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế, một cựu chiến binh của Sư đoàn 411, cùng nhà phê bình văn chương Lại Đức Thành. Vòng cung Hòa Bình-Sơn La-Điện Biên-Lai Châu-Lào Cai... gần như được làm mới hoàn toàn, không còn dấu vết ngày xưa chúng tôi phải sấp ngửa trên chiếc xe Gaz-69 ậm ạch, phải ngủ đỗ ở dọc đường. Chúng tôi đã đi qua thung lũng Mường Thanh có hầm đầu hàng của tướng Đờ Cát cùng với những đồi A, đồi C... đến viếng Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ, chìm đắm trong khói hương của lịch sử. Chúng tôi đi qua Mường Lay được xây lại sau những cơn lũ quét, đi qua Đồi Cao nơi xưa cơ quan đầu não của tỉnh Lai Châu (cũ) tọa lạc. Ở nơi này, năm 1980, tôi đã dự Đại hội chiến sĩ thi đua của tỉnh Lai Châu, rồi theo xe chở các đại biểu địa phương đi Mường Tè, sau đó đi bộ lên Đồn Biên phòng Hua Bum, đi xuống các bản người dân tộc Hà Nhì. Ngày đó, tiếng súng chiến tranh biên giới ở khu vực Lai Châu đã im, nhưng cuộc chiến ở những vùng khác vẫn còn dai dẳng. Tôi ngủ đêm ở nhà xã đội trưởng người Hà Nhì, ăn bữa cơm, uống rượu sắn với cá suối. Dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam chỉ khoảng trên dưới hai vạn người, riêng Lai Châu khoảng vạn tư. Người Hà Nhì sống tập trung ở châu Hồng Hà tự trị thuộc tỉnh Vân Nam-Trung Quốc. Tôi có một bạn thơ người Hà Nhì tên là Ge Bu, Chủ tịch Hội Nhà văn châu Hồng Hà. Tôi quen anh trên chuyến tàu hỏa Hà Khẩu-Côn Minh, nhân cùng đi dự một hội nghị quốc tế ở thủ phủ tỉnh Vân Nam cách nay hơn chục năm. Một vài năm sau, gặp lại nhau ở Nam Ninh, anh ôm lấy tôi xem như bạn cũ thân thiết. Năm ngoái, anh sang Hà Nội nhận Giải thưởng Văn học sông Mê Công, anh cứ cầm tay tôi mãi không rời. Anh nói anh yêu Việt Nam. Anh làm tôi nhớ lại cảm giác tin cậy khi ngủ đêm ở nhà xã đội trưởng người Hà Nhì, xã Hua Bum năm ấy...

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

Nhà văn, cựu chiến binh Nguyễn Tham Thiện Kế, hồi còn tại ngũ do có giọng đọc ấm áp nên luôn được giao nhiệm vụ đọc Báo QĐND cho đại đội. Anh đọc và cảm nhận chứ không chỉ làm nhiệm vụ của một phát thanh viên. Anh bảo, khi bước chân rời khỏi ngôi nhà thân thương, dấn thân vào cuộc đời lính trận thì truyền thống đơn vị liền ngấm vào, trở thành máu thịt của mình. Tây Bắc là vùng đất giống như chiếc nôi của Sư đoàn 411. Những tên đất như: Ma Ly Pho, Pa Nậm Cúm, Mù San, ngã ba Phong Thổ, hay dốc đứng Pa Tần, Dào San… cứ được nhắc đi nhắc lại trong câu chuyện chiến đấu của Trung đoàn 98, Sư đoàn 411 sát cánh với Trung đoàn 46, Sư đoàn 326 thời chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc. Chúng tôi nhắc lại những trận đánh giành và bảo vệ các cao điểm được đánh số trên bản đồ tác chiến 805, 551 hay 553. Nguyễn Tham Thiện Kế hất ngược mái tóc bồng bềnh của anh, mắt tối lại, nói: “Tôi bây giờ vẫn như nhìn thấy cảnh người dân chạy loạn, nhìn thấy những đồng đội của tôi ngã xuống trên chiến hào. Trên con đường được thảm nhựa phẳng lì mà chúng ta đang đi đây, biết đâu vẫn còn hài cốt của liệt sĩ chúng ta nằm sâu dưới đó...”.

II. Chúng tôi kết thúc chuyến đi vòng cung Tây Bắc ở Lào Cai. Thành phố đô thị loại 2 được thành lập năm 2004, được sáp nhập từ thị xã Lào Cai và thị trấn Cam Đường mở rộng ra phía hữu ngạn sông Hồng, đón đường cao tốc từ Hà Nội lên. Ngày 5-3-1979, khi đối phương tuyên bố rút quân, tôi được cử lên Lào Cai cùng các nhà báo Nguyễn Trần Thiết, Ngọc Thông, Vương Trí Nhàn... Ở hướng này, đối phương tiến sâu xuống đến Phố Lu, cách Lào Cai hơn 30 cây số. Ở Phố Lu, mọi công sở bị phá sập. Mỏ apatit Cam Đường bị san phẳng, mọi thiết bị máy móc mới nhập từ Liên Xô về bị mất sạch. Cầu sắt nối thị xã Lào Cai và Kim Tân bị đánh bay...

Giờ đây ngồi nghỉ chân bên này bờ sông Hồng, Nguyễn Tham Thiện Kế nhắc lại những trận chiến đấu của sư đoàn anh ở Sa Pa. Tôi kể cho Kế và Thành nghe chuyện tôi và nhà văn Hồng Diệu đi Mường Khương, quân báo ta bắt được một hàng binh tên là Ngọc, chúng tôi đã tiếp xúc ra sao. Ngọc là một người lính có văn hóa, học hết cao trung (như THPT của ta), nói phản chiến nên chạy sang Việt Nam. Tôi không biết có nhiều lính đối phương phản chiến không, nhưng tôi có đọc một tài liệu của đối phương nói về một phi công phản chiến của họ. Người phi công này đã lập kế hoạch cướp máy bay, bay sang Việt Nam. Anh ta bị đuổi rát, do thiếu xăng nên rơi xuống một vùng núi sát với biên giới nước ta. Nhà phê bình văn học Lại Đức Thành, chưa trải qua đời lính, trầm ngâm nói: “Đối với nhân loại, chiến tranh luôn luôn là thảm họa và cuối cùng người dân gánh đủ mọi sự...”.

Những suy ngẫm của Thành gợi cho tôi nhớ lại thời thơ ấu của mình, khi quân Pháp tấn công lên Phú Thọ, Sư đoàn 312 về tổ chức trận địa phòng ngự ở quê tôi, mẹ đưa chúng tôi đi sâu vào rừng, gánh trên vai gạo muối, mấy đứa em còn nhỏ để tránh giặc. Nhưng trận đánh lại xảy ra ở Trạm Thản trên Quốc lộ 2 đoạn qua thị xã Phú Thọ-Đoan Hùng. Mẹ đưa chúng tôi về nhà, miệng không ngớt lẩm bẩm: Ơn trời Phật, bom đạn đã tránh nhà con... Rồi mẹ bảo với tôi: Tội nghiệp cho những người dân bên Trạm Thản, không may bị mũi tên hòn đạn giết oan...

III. Bộ ba chúng tôi lại tiếp tục hành quân đi Hoàng Su Phì và Xín Mần, miền núi đất phía Tây Hà Giang. Chuyến đi ấy, tôi viết bài thơ “Tây Côn Lĩnh”, đoạn kết như sau: Cổng trời mở ra một trời khác/ Ta đắm vào hương chạm tính người/ Chạm vào linh khí Tây Côn Lĩnh/ Muốn hát muôn trùng Tổ quốc tôi... Tôi đưa bài thơ lên mạng, một người em gọi điện cho tôi, rủ rê đi lại Hà Giang lần nữa, lên Đồng Văn, Lũng Cú... Tôi đồng ý ngay. Cứ nói đến đi Hà Giang là tôi sẵn sàng. Trước khi nghỉ hưu, tôi đã sắp xếp một chuyến đi Hà Giang hơn nửa tháng trời. Hà Giang có gì làm tôi say mê? Miền cực Bắc Tổ quốc, cao nguyên đá hùng vĩ, những giai thoại chợ tình, mùa tam giác mạch... Tất cả đều hấp dẫn. Nhưng Hà Giang làm cho tôi nắc nỏm, khắc khoải ấy chính là tôi đã gửi ở đó một phần tuổi trẻ của mình.

Ngày 16-3-1979, đối phương tuyên bố hoàn thành việc rút quân ra khỏi biên giới Việt Nam, nhưng cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới sau đó vẫn kéo dài. Ở Hà Giang, cuộc chiến dai dẳng 10 năm sau đó, cho đến khi hai nước chính thức nối lại quan hệ hữu nghị thì chiến tranh mới thực sự chấm dứt. Ngày đó, đất nước vừa sống trong hòa bình, vừa có chiến tranh. Tôi đã có nhiều chuyến công tác lên mặt trận Vị Xuyên, lên ngả Đồng Văn-Mèo Vạc. Ở Mèo Vạc, chúng tôi đã vượt sông Nho Quế sang ba xã bên kia sông. Ở đấy tôi đã kết nghĩa với một thượng úy, tiểu đoàn trưởng. Và trong một lần ra chốt, tôi trèo lên bờ hào đã bị lính đối phương nã sang một tràng súng 12,7mm, đạn veo veo qua đầu. Tôi đã đi với các đơn vị công binh mở đường và đào hầm. Tôi đã lên đài quan sát pháo binh và rơi vào túi pháo khi bất ngờ cụm pháo bên kia biên giới bắn sang. Mặt trận Vị Xuyên nhức nhối hơn 10 năm. Bộ CHQS tỉnh Hà Giang mới đây đã sưu tầm, cho in lại nhiều bài báo viết tại chiến trường, thơ ca và hồi ký của các tướng lĩnh và binh nhì, trong đó có bài thơ “Bài hát đỏ” của tôi, in Báo QĐND ngày đó. Một lần đi lên Tuyên Quang cùng anh Hà Quang Dự, nguyên Bí thư Trung ương Đoàn, tôi có kể về nhân vật của bài thơ. Anh Dự nhận ra người con gái đó là cháu anh, tốt nghiệp trường đoàn, đã tình nguyện lên mặt trận Vị Xuyên công tác. 

Con đường lên Hà Giang bây giờ được sửa chữa, nâng cấp thảm nhựa phẳng lì, có thể đi thẳng từ Yên Minh lên Mèo Vạc. Thời chiến tranh, chưa có con đường này, chúng tôi phải đi lên Đồng Văn, ngược đỉnh Mã Pì Lèng, theo đường Hạnh Phúc như một kỳ quan, xuống Mèo Vạc. Đường Hạnh Phúc là kết tủa mồ hôi, công sức của hàng vạn thanh niên các tỉnh phía Bắc, bám vào các sườn núi đá, men theo dọc sông Nho Quế sâu hút và ngoằn ngoèo như một sợi lanh, xuyên kết các ngọn núi, nhưng nằm trong tầm pháo cối của đối phương ở bên kia. Dọc đường ngược lên cực Bắc, những cánh đồng tam giác mạch được sự vun quén nghệ thuật của con người, tím hồng như những dải mây khoác lên các sườn núi. Khách du lịch lên Lũng Cú thi nhau chụp ảnh. Chiến tranh dường như đã lùi xa, đã là quá vãng...

Năm 1984, đối phương mở chiến dịch lấn chiếm biên giới Vị Xuyên với quy mô lớn, đánh chiếm các quả đồi từ bình độ 1.800 ở phía tây đến bình độ 1.200 ở phía đông mà họ gọi là Lão Sơn, tạo ra một “lò vôi thế kỷ”. Ngày ấy, mỗi khi lên mặt trận, chúng tôi phải đi từ lúc 3 giờ sáng, xe chỉ được bật đèn gầm để bò sao cho kịp đến làng Pinh trước khi mặt trời mọc. Tôi nhớ mãi dư vị chè đắng mà những người lính chốt giữ Vị Xuyên làm ra để uống trên chốt. Có người hôm nào còn mời chúng tôi thử vị chè lính, giờ nằm đâu đó trong Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên...

IV. Một ngày đầu năm 2019, tôi xuất hành lên Lạng Sơn với đoàn nhà văn của Hội Nhà văn Việt Nam. Một chuyến đi kết thêm nhiều bạn mới. Nhưng phải nói ngay rằng: Với Lạng Sơn thì tôi là một người cũ. Tôi nhập ngũ khi vừa kết thúc năm học lớp 9 phổ thông hệ 10 năm, chính thức nhận quân hàm binh nhì ở Tiểu đoàn huấn luyện của bộ đội không quân tại Cát Bi ngày 9-6-1961. Xong khóa huấn luyện chiến sĩ mới, bất ngờ tôi được điều về Trường Văn hóa Quân đội đặt ở thành cổ Lạng Sơn để học hết lớp 10, rồi học tiếng Nga để đi học kỹ thuật quân sự ở Liên Xô. Nhưng một số chúng tôi không đi học Liên Xô mà về Sư đoàn 308 hoặc đi hải quân để tiếp tục rèn luyện. Tôi về làm lính tiểu đội hỏa lực thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn Thủ Đô. Chúng tôi được huấn luyện các kỹ năng chiến đấu bộ binh rồi tham gia diễn tập “Trung đoàn phòng ngự trong điều kiện có nguyên tử nổ” ở Tiền Hải-Thái Bình. Sau đó tôi còn có rất nhiều lần trở lại Lạng Sơn, trong đó có hai lần về Trường Văn hóa Quân đội. Vì vậy, cái thị xã xứ Lạng ấy rất thân quen và gần gũi với tôi.

Thành cổ Lạng Sơn, cái nôi bồi dưỡng văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ “nguồn”, nay đã thu nhỏ lại, không chỉ do thị xã tiến lên thành phố, mà do công năng của nó không còn như cũ nữa.

Phó chủ tịch HĐND tỉnh Đoàn Thị Hậu bố trí để chúng tôi đi Tràng Định, Lộc Bình... đến các Đồn Biên phòng Pò Mã và Chi Ma. Lại nhớ ngày đó Sư đoàn 437 phòng ngự ở Tràng Định, trong thế tựa lưng vào sông Kỳ Cùng. Hiện nay, nghĩa trang của sư đoàn ở Tràng Định ghi danh đúng 437 liệt sĩ. Đêm lạnh 10 độ C, nằm ở nhà khách UBND huyện, nghe tiếng gió u u, như nghe đội ngũ núi tuần tra đường biên, lòng không khỏi rợn sóng ngàn lau trắng...

Nhà văn HÀ PHẠM PHÚ (nguyên phóng viên Báo QĐND)