1. Những năm gần đây, đời sống văn học Việt Nam chứng kiến sự trỗi dậy của ý thức phê bình, khi những cuốn sách từ nghiên cứu, giới thiệu lý thuyết đến phê bình ứng dụng liên tục được công bố. Đó là những công trình tâm huyết của đông đảo các tác giả đủ mọi thành phần: Từ người già đến người trẻ, từ những tên tuổi quen thuộc đến những tên tuổi mới mẻ, từ tác giả trong nước đến tác giả hải ngoại, từ nhà phê bình đến nhà sáng tác, từ một tác giả đến của nhiều tác giả… Nhiều tác phẩm trong số đó đã nhận được giải thưởng của các hội văn học nghệ thuật (VHNT) ở Trung ương và địa phương.

Thực tế trên đây cho thấy rằng, nghiên cứu phê bình văn học ở ta hiện nay không hề “vắng bóng” như một vài nhận xét. Chưa bao giờ như bây giờ, mỗi nhà sáng tác cũng đồng thời là một nhà phê bình, qua cách họ viết về chân dung bạn văn, viết về sách mới của đồng nghiệp, nói về tác phẩm của mình, bàn về vấn đề thời sự của văn học… Chưa bao giờ như bây giờ, mỗi người đọc, ở một mức độ nào đó, cũng là một nhà phê bình, qua cách họ tương tác trên các trang mạng xã hội về một vấn đề, hiện tượng văn học. Có nghĩa là, ở cộng đồng văn chương hôm nay, không chỉ người làm nghiên cứu phê bình văn học, mà cả người sáng tác lẫn người đọc văn chương đều tự trang bị cho mình một “phông” lý luận phê bình nhất định. Cũng chưa bao giờ các lý thuyết văn chương hiện đại trên thế giới được cập nhật, giới thiệu khá đầy đủ, có hệ thống ở Việt Nam như bây giờ, từ thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, lý thuyết tiếp nhận… đến lý thuyết trò chơi, lý thuyết hậu hiện đại, lý thuyết diễn ngôn, lý thuyết sinh thái, lý thuyết liên văn bản, lý thuyết hậu thực dân, lý thuyết nữ quyền… Chưa bao giờ các hội nghị, hội thảo, tọa đàm về văn học nói chung và lý luận, phê bình văn học nói riêng lại được diễn ra quy mô, thường xuyên như bây giờ. Công tác xét đầu tư, hỗ trợ, xét giải thưởng, tặng thưởng tác phẩm lý luận phê bình văn học xuất sắc của Hội đồng Lý luận phê bình VHNT Trung ương, hay của Hội Nhà văn Việt Nam được diễn ra hằng năm. Chưa bao giờ các trại viết dành riêng cho các tác giả nghiên cứu phê bình lại được một số cơ quan như Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội VHNT Việt Nam, Tạp chí Văn nghệ Quân đội… ưu tiên tổ chức như mấy năm trở lại đây…

Một bằng chứng thấy rõ nghiên cứu phê bình văn học ở ta hôm nay đang khẳng định sự hiện diện của mình trong đời sống văn học, đó là năm 2017, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam “mất mùa” cả thơ lẫn văn xuôi, trong khi có đến hai tác phẩm lý luận phê bình được vinh danh, là Bóng người trong bóng núi của Lê Thành Nghị và Cách tân nghệ thuật văn học phương Tây của Phùng Văn Tửu. Cũng tương tự như vậy, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội để trống tác phẩm ở hạng mục thơ, trong khi hạng mục lý luận phê bình có tên Phạm Khải với tác phẩm Trang sách mạch đời. Còn nữa: Giải thưởng Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh chỉ trao giải thưởng chính thức cho công trình lý luận phê bình Văn chương phương Nam-một vài bổ khuyết của Võ Văn Nhơn và Nguyễn Thị Phương Thúy...

2. Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu khởi sắc như vừa điểm trên đây, thì tình hình nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, mà những bất cập này vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của nhau.

Thứ nhất, đa phần sách nghiên cứu phê bình được công bố thời gian gần đây hơi kinh viện, hàn lâm, “cao siêu”, chỉ hướng đến người đọc “tinh hoa”, khó mà “đi vào” được người đọc phổ thông. Đang có xu hướng là các tác giả nghiên cứu phê bình khi ra sách thì “nói không” với thứ sách bị gọi là phê bình “hàng xén”, họ muốn trình làng những chuyên luận tập trung đi sâu vào một lĩnh vực chuyên môn hẹp, điều này vô hình trung chỉ có lợi cho thiểu số người quan tâm đến mảng chuyên môn đó, không có lợi cho đa số bạn đọc. Bên cạnh đó là nhiều cuốn sách được xuất bản một cách dễ dãi, tập hợp những bài viết vụn vặt tản mạn, nghèo hàm lượng chuyên môn học thuật.

Thứ hai, nghiên cứu phê bình văn học hôm nay thiếu những người thực sự là “thư ký trung thành” của hiện thực văn chương, những người sống cùng với đời sống văn chương hiện thời. Nhiều công trình đi vào nghiên cứu, giới thiệu lý thuyết, hoặc khảo cứu những hiện tượng văn học quá khứ, ít công trình đi sâu giải phẫu những hiện tượng, thực thể văn chương tươi mới, sinh động đang diễn ra. Do vậy, vai trò định hướng, đồng hành, đối thoại, khai phóng, dự báo… của nghiên cứu phê bình chưa thật sự được phát huy. Khoảng cách giữa nghiên cứu phê bình với sáng tác và tiếp nhận chưa được rút ngắn, nếu không muốn nói là đang có chiều hướng nới giãn. Nghiên cứu phê bình hoặc chui vào tháp ngà hàn lâm kinh viện, hoặc cao đàm khoát luận, đao to búa lớn, nhưng khi đời sống văn học cần các nhà nghiên cứu phê bình lên tiếng thì họ lại bặt tiếng.

Thứ ba, nghiên cứu phê bình hôm nay chưa thật sự theo kịp sáng tác. Sáng tác đang vào thời của “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, bề bộn, hỗn độn. Đường biên của văn chương nói chung, của các thể loại văn chương nói riêng, đang không ngừng trương nở. Bản chất, đặc trưng đã được mặc định của văn chương đang bị lung lay, phân rã bởi các lý thuyết thời thượng. Trong khi nghiên cứu phê bình chưa bao quát được sự chuyển dịch, biến đổi sâu sắc và toàn diện này của sáng tác. Mặt khác, hiện nay một số người viết đang nhân danh cơ chế “dân chủ”, đang thừa cơ lý thuyết “trò chơi” để “giải thiêng” lịch sử, hạ bệ thần tượng, đạp đổ, đánh tráo giá trị. Nhiều nhà phê bình cấp tiến tự phong lại “mượn gió bẻ măng”...

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay, thiết nghĩ cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, các cơ quan chức năng quan tâm chú trọng hơn đến công tác giáo dục, đào tạo nghiên cứu phê bình văn học, từ học sinh phổ thông, các sinh viên văn khoa đến các học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành văn học... Đây là đội ngũ tiềm năng rất đông đảo, nếu được đào tạo bài bản, nghiêm túc, chất lượng, được “kích hoạt” đúng cách thì trong số họ sẽ trình xuất nhiều nhà nghiên cứu phê bình sáng giá. Cùng đó, các tổ chức có thẩm quyền tập hợp đội ngũ, có động thái “tiếp lửa” phù hợp để người làm phê bình và người có khả năng làm phê bình bung trổ hơn, dấn thân hơn, đi được dài đường hơn. Bên cạnh đó, các chương trình tập huấn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm về văn học nói chung, về lý luận phê bình văn học nói riêng hướng đến tinh gọn, trọng tâm, có chiều sâu, thiết thực, chất lượng, hiệu quả hơn. Đồng thời, các diễn đàn nghiên cứu phê bình, “đất” cho nghiên cứu phê bình trên các báo, tạp chí in cần được nới rộng hơn, chế độ nhuận bút cho các sách, bài viết nghiên cứu phê bình được cải thiện hơn.

Điều quan trọng nhất mà không ai, không gì có thể làm thay, là mỗi người làm nghiên cứu phê bình phải thường xuyên tự mình làm đầy kiến văn, phông văn hóa, triết mỹ; thường xuyên trau dồi ý thức, năng lực chuyên môn, lương tâm nghề nghiệp của mình, nâng mình lên cho tương thích với nhu cầu, đòi hỏi của thời đại.

HOÀNG PHƯỚC LỘC