Đầu thập niên 1980, tôi tốt nghiệp đại học và lên Gia Lai-Kon Tum nhận công tác. Công việc đầu tiên là đi sưu tầm văn nghệ dân gian và chuyến công tác đầu tiên của tôi là được đi với nhóm chuyên gia của Viện Văn hóa do GS Tô Ngọc Thanh làm trưởng đoàn. Còn nhớ khi GS Tô Ngọc Thanh hỏi tôi: “Cậu có thích đi sưu tầm văn nghệ dân gian không?”, tôi đã trả lời thành thật: “Em thích sáng tác, nhưng cơ quan cử đi với các bác thì chấp hành thôi...”. Ông không hỏi nữa, nhưng vẻ thất vọng hiện rất rõ trên gương mặt.

leftcenterrightdel
Đồng bào Tây Nguyên biểu diễn hát múa ở Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: THU HÒA

Một thời gian sau, tôi lại được tiếp xúc với GS Từ Chi. Ông là con người hết sức lạ lùng: Cái gì cũng biết mà lại luôn như không biết gì. Mọi lời nói ra đều hết sức thận trọng với sự lặng đi một lát như suy nghĩ khi có ai đó hỏi về việc gì, rồi chậm rãi “Tôi đồ chừng rằng là...”, dù ai cũng biết những kiến giải ấy là hết sức chính xác. Tiếp đó tôi còn được tiếp xúc, làm việc với nhiều bậc “đại thụ” về văn hóa nữa. Và tôi đã “bập” vào văn hóa Tây Nguyên từ đấy.

Tây Nguyên - rộng ra là vùng Trường Sơn Tây Nguyên - là một vùng rộng lớn men theo dãy Trường Sơn với các dân tộc đặc trưng như: Vân Kiều, Tà Ôi, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Ba Na, Xơ Đăng, Giơ Rai, Ê Đê, M’Nông, Mạ, Lạch... với một hệ thống văn hóa nương tựa vào rừng, vào văn minh nương rẫy. Họ có một đời sống văn hóa hết sức đặc trưng để phù hợp với đời sống, hoàn cảnh và tư duy của họ. Đặc biệt là hệ thống luật tục, dẫu còn thô sơ nhưng khá phù hợp để họ ứng xử với nhau, với tự nhiên mà chủ yếu là ứng xử với người trong làng và ứng xử với rừng. Trong đó, họ có những ứng xử hết sức khắc nghiệt như với tệ loạn luân, ăn cắp... nhưng cũng hết sức nhân văn như việc bảo vệ rừng, tôn trọng thiên nhiên, quan hệ vay - trả. Ví dụ người đàn bà đẻ con mà không có sữa thì sẽ làm lễ vay sữa cây sung và sẽ trả sòng phẳng. Hoặc nếu săn được thú rừng, ngoài phần ăn chung cả làng, còn lại thì sẽ được chia rất đều cho cả làng, từ trẻ con đến cụ già cao tuổi.

Người Tây Nguyên sống hài hòa với tự nhiên, với chính mình và họ hài lòng với cuộc sống ấy. Của cải từ rừng và cuộc sống của họ cũng từ rừng. Nhưng họ không bao giờ phá rừng tràn lan mà đều có những tính toán rất phù hợp. Ngay cuộc sống du canh du cư tưởng là lang thang, hoang sơ nhưng thực ra cũng rất có lý.

Ấy là họ đi “loanh quanh” chứ không đi hẳn. Khi có dịch bệnh, chiến tranh, đất hết màu mỡ... thì họ dời làng đi, đến chu kỳ nào đấy lại quay về chỗ cũ, lúc này đất đã tốt trở lại, thiên tai địch họa không còn. Cũng có những nơi không bao giờ họ quay lại nữa. Và đấy chính là một phần của nguyên nhân sinh ra tục “bỏ mả”. Khác với người Kinh sống bám vào quê cha đất tổ, dẫu có ly tán tới phương trời nào thì vẫn quay đầu về vái bàn thờ tổ tiên, người Tây Nguyên khi đã “bỏ mả” là xong, là không quan hệ gì với người chết nữa. Và vì thế mà “bỏ mả” là một trong những lễ rất lớn của họ, là nơi họ phô bày hết tình cảm máu thịt của mình, đồng nghĩa với phô bày sự tài hoa như có hẳn những bài chiêng dành riêng cho “bỏ mả”. Đặc biệt, những nhà mồ, tượng mồ... là những công trình nghệ thuật tuyệt vời của người dân Tây Nguyên. Làng của người Tây Nguyên cũng thế, có những công trình nghệ thuật và văn hóa tuyệt vời như nhà rông. Đấy có thể gọi là trái tim, linh hồn của làng Tây Nguyên. Ngay bây giờ, nhiều kỹ sư xây dựng, kiến trúc sư vẫn ngạc nhiên khi ngồi phân tích kỹ thuật làm nhà rông của người Tây Nguyên. Tất cả chỉ là kinh nghiệm của nghệ nhân. Những nghệ nhân mù chữ, hoàn toàn ước lượng bằng sự tưởng tượng và kinh nghiệm truyền đời này sang đời khác. Họ làm những cái nhà rông khổng lồ ấy chỉ bằng hai dụng cụ là rìu và rựa, hoàn toàn không có vật liệu nào hiện đại, tất cả đều khai thác từ rừng như: Gỗ, tranh, dây buộc... Thế mà cái nhà rông hàng trăm tấn lừng lững giữa trời, giữa nắng gió cao nguyên lồng lộng.

Cuộc sống sinh ra văn hóa và đời sống tinh thần của những con người ấy. Chúng hòa quyện vào nhau, nâng đỡ nhau cùng tồn tại qua thời gian trong không gian dằng dặc, tồn tại một cách có lý, vững bền và hết sức phong phú chứ không như một số người mới liếc qua đã cho rằng như thế là “lạc hậu quá, phải thay đổi”(?). Chính vì thế, trong số những chính sách phát triển văn hóa - xã hội Tây Nguyên, có những cái thích nghi, phù hợp đời sống; nhưng cũng có những cái xa rời đời sống, thậm chí méo mó, sai lệch. Kết quả là hôm nay chúng ta đang phải đi vận động bà con bảo vệ bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Chẳng hạn cái khố của người Tây Nguyên, một thời từng vận động bà con “bỏ khố” vì cái vật dụng ấy trông “hoang dã” phản cảm. Thế nhưng không mặc khố thì làm sao “nhận diện” được người Tây Nguyên? Thế là lại phải có khố, có người mặc khố, có người dệt khố... để giữ gìn bản sắc văn hóa Tây Nguyên. Nhưng cái việc “quay về” này hiện nan giải hơn hồi “cởi bỏ”.

Lại nhớ cái thời “Kon Cheo hóa”. Kon Cheo là một địa phương thuộc tỉnh Gia Lai, được tỉnh đầu tư làm nhà trệt, lấy đấy làm mô hình để vận động tất cả bà con bỏ nhà sàn, làm nhà trệt. Nhưng cái nhà sàn nó hết sức thích hợp với đời sống bà con Tây Nguyên. Nó ngăn thú rừng và nhất là nó hợp vệ sinh. Bởi vì đất Tây Nguyên đỏ mà bà con quen đi chân đất, leo lên cầu thang cũng là cách “chùi chân” trước khi bước lên sàn nhà. Rồi lại phải có chỗ để... nhổ nước bọt vì bà con hút thuốc rất nặng nên thường xuyên nhổ, sàn nhà bằng le có kẽ hở là để xử lý việc này.  Vân vân và vân vân... Và y như rằng, bây giờ các nhà quản lý lại đang hết sức lo lắng việc bà con bỏ nhà sàn làm nhà bê tông. May là việc này chưa rầm rộ.

Rồi việc “phổ cập” nhà rông văn hóa lại là một sai lầm nữa! Về nguyên tắc, nhà rông bao giờ cũng nằm ở trung tâm của làng, nó đạt đến độ hài hòa kinh ngạc với cảnh quan chung quanh, với các ngôi nhà sàn của làng và với chính nó. Nó đủ lớn để chứng minh sự “uy quyền”, nhưng cũng đủ mềm mại để thân thuộc trong mắt mỗi người dân trong cộng đồng. Nó đủ cao to để tự hào, để mọi người dân gửi khát vọng của mình vào đó trong ước muốn chinh phục và cả tư tưởng thần phục, nhưng cũng đủ để chống chọi với nắng gió cao nguyên mà tồn tại như một biểu tượng vĩnh hằng của cái đẹp và sự trường tồn... “Nhà rông văn hóa” mà ngành văn hóa rót tiền xây dựng đã phá vỡ điều này. Vì ngôi nhà là của xã nên thường đặt cạnh trụ sở xã. Với người dân Tây Nguyên, khái niệm “xã” còn khá xa lạ, vì bà con coi làng là đơn vị trung tâm, ý thức làng của bà con rất lớn. Vì thế khi “nhà rông văn hóa” được dựng ở ngoài làng, bà con coi như không phải của mình. Chưa kể còn các bất tiện khác để bà con không lên, không sử dụng “nhà rông văn hóa”.

Thực tế trên đây bắt đầu từ chỗ khi làm dự án, chúng ta đã không tính đến các yếu tố sau đây: Một là, ý nghĩa tâm linh không còn vì không có nơi để vật thiêng, dù vật thiêng đôi khi chỉ là hòn đá, cái nanh thú, con dao... nhưng đó là nơi dân làng gửi niềm tin, nơi trao gửi ước mơ, khát vọng và bao điều sâu xa thầm kín. Hai là, người Tây Nguyên không hình dung nổi một ngày nào đó lại thờ chung Yang (trời), cùng người làng khác “đối thoại” với Yang từ cái nóc nhà rông cao vút kia, từ cây nêu mềm mại trước sân kia. Ba là, về sự tiện dụng: Nhà rông truyền thống được lát sàn bằng le, chừa các kẽ hở với nhiều tác dụng. Khi uống rượu ghè thì sẽ có nước chảy ra và nước sẽ theo kẽ hở lọt xuống sàn ngay, không ướt lép nhép như sàn xi măng hoặc ván khít khịt của “nhà rông văn hóa”. Nhà rông truyền thống là chung của làng, nhưng cũng là của từng người, thanh niên chưa vợ và đàn ông vợ chết có thể lên ngủ hằng đêm. Còn “nhà rông văn hóa” thì đến khuya là khóa cửa cấm người vào. Bốn là, ngôi nhà không còn là niềm tự hào của làng nữa, vì của Nhà nước làm cho, nên dẫu có rồi, mỗi làng vẫn cứ làm một nhà rông của mình. Nhà rông này là nơi dân làng thường xuyên lui tới. Còn “nhà rông văn hóa”, năm thì mười họa mời bà con lên họp khi có cán bộ về phổ biến gì đó, họp xong bà con lại về nhà rông của mình uống rượu, chuyện trò, sinh hoạt như hàng nghìn năm qua... Năm là, “nhà rông văn hóa” được trang bị để trở thành một thiết chế gồm máy nổ, loa đài, vô tuyến truyền hình, đầu chiếu video... nhưng lại chưa tính tới chi phí vận hành. Sáu là, nó phá vỡ sự hài hòa và cả sự yên bình vốn có của các làng Tây Nguyên. Hãy hình dung giữa những ngôi nhà sàn lúp xúp lại nổi lên một khối bê tông lù lù với mái tôn lạnh lẽo, thô kệch.

Như vậy là phải chăng, chúng ta đã duy ý chí khi áp đặt suy nghĩ của mình vào sinh hoạt cộng đồng của cư dân Tây Nguyên, dù có thể ý tưởng ban đầu là tốt? Tất nhiên Tây Nguyên không thể cứ mãi mãi cởi trần đóng khố, mãi mãi đốt xà nu thay điện, đánh chiêng thay guitar hoặc organ, nấu bếp củi thay vì bếp gas... mà Tây Nguyên phải phát triển theo hướng văn minh, hòa nhập với đời sống. Vấn đề là sự phát triển ấy phải hợp quy luật và có lý. Nó là một sự tiếp nhận chọn lọc trên cơ sở có cái sẽ triệt tiêu, có cái giao thoa, có cái kế thừa và có cái du nhập...

Sự phát triển nào cũng kéo theo những hệ lụy. Tây Nguyên cũng không ngoài quy luật ấy. Vấn đề là nhìn ra sự phát triển ấy, nhìn thấy những cái sẽ tồn tại, những cái mất đi, để chuẩn bị, để có sự tiếp nhận, hết sức tránh những áp đặt chủ quan duy ý chí, lấy văn hóa này lấn lướt văn hóa kia. Cũng như trong văn học, nghệ thuật của Tây Nguyên và về Tây Nguyên. Có người quan niệm: Văn học nghệ thuật về Tây Nguyên là phải có Tây Nguyên cụ thể trong tác phẩm, là các địa danh, là lửa rừng, là chân trần sơn nữ, là lời ăn tiếng nói phải có “bụng tao, bụng mày”... Tôi cho rằng, điều ấy cũ rồi. Bây giờ là một cách nhìn mới. Không miêu tả mà là chiêm ngẫm. Không thấy mà nghĩ. Nghĩ tới những điều sẽ mất, sẽ rạn vỡ, sẽ trôi dạt... Rồi mà cảnh báo, chứ không làm thay. Không thể thay thế cái mất (tất yếu) này bằng một cái mất cơ học khác. Phát triển là mất mát, nhưng có những cái mất đúng quy luật, cái mất để phát triển. Và có những cái mất do duy ý chí, do thiếu hiểu biết, do những việc phi logic, phi quy luật.

Cho nên theo tôi, trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển văn hóa Tây Nguyên, điều quan trọng trước tiên là phải đào tạo những người hiểu biết về văn hóa Tây Nguyên, gan ruột với Tây Nguyên, đồng hành cùng Tây Nguyên...  để về phục vụ Tây Nguyên. Mà điều này có lẽ đúng không chỉ với Tây Nguyên!

Bút ký của VĂN CÔNG HÙNG