Quán hủ tiếu buổi sáng lưa thưa thực khách, dù mùi nước dùng thơm ngậy bay là là qua bên kia đường, cuốn theo những vòng bánh xe vội vã. Bà Út chủ quán vừa bưng ra một tô mới thì năm người khách lạ bước vào. Họ gồm hai phụ nữ một già, một trẻ và ba người đàn ông đều ở tuổi trung niên. Người đàn ông có cặp mắt đỏ ngầu và lưng áo nhăn nhúm kia có lẽ là lái xe. Vẻ mệt mỏi toát lên trên từng khuôn mặt.

leftcenterrightdel
Minh họa: LÊ ANH

Người phụ nữ trẻ cất tiếng hỏi, giọng miền Bắc khá chuẩn:

- Có phở không bà chủ?

- Dạ hông! Có hủ tiếu, bánh canh và bún riêu chay thôi cô!

 Bà khách già buông chiếc túi xách nặng, nét mặt lộ vẻ vui mừng:

- Thế à? Đồ chay thì thứ gì tôi cũng ăn!

Một người đàn ông lôi chiếc điếu cày nhỏ xíu trong ba lô ra, vỗ vỗ lên miệng ống điếu, rồi lập bập vừa quẹt lửa vừa nói:

- Thế thì ăn bún cả đi! Tôi không quen ăn hủ tiếu!

Bà khách già đến bên bà Út chủ quán, lễ phép:

- Bà cho chúng tôi rửa mặt, vệ sinh nhờ được không ạ?

Bà Út vui vẻ chỉ ra sau nhà:

- Dì với mấy em ra phía sau! Cứ tự nhiên!

Bà Út đã quen nhìn thấy những chiếc xe như thế này. Lâu lâu lại có một chiếc chạy qua, hoặc tấp lại hỏi đường. Riêng bữa nay thì có xe dừng lại vô quán bà ăn sáng hẳn hoi. Họ là người miền Bắc đi tìm hài cốt liệt sĩ thân nhân. Súng đạn đã dứt từ năm bà sanh thằng Út Hên. Bữa đó bà Út đau bụng dữ dội, nằm trong nhà bảo sanh của họ đạo, nghe súng nổ rầm trời phía cầu. Bà mụ tay chân run lẩy bẩy, nhưng vẫn an ủi:

- Ráng lên! Chút xíu là xong thôi. Bom đạn cũng có mắt, nó không rớt bất tử đâu mà sợ!

Nay thằng Út Hên ngoài 40 tuổi rồi, mà hầu như tuần nào, tháng nào cũng có người từ miền Bắc vô tìm mộ. Bà Út thở dài: Chiến tranh mà! Bao nhiêu người ngã xuống lúc đầu xanh tuổi trẻ, bao nhiêu người tàn phế, sống vất vả mưu sinh. Mấy chục năm nay yên ổn hòa bình, nỗi lo sợ hồi hộp đã lắng xuống. Bà thấy cảm thương vô cùng những người đi tìm mộ liệt sĩ thân nhân. Có người tìm được mừng mừng, tủi tủi. Có người vô ra mấy lần vẫn chịu cảnh mò kim đáy bể...

- Mấy người đã có chỗ nghỉ đêm chưa? Nếu không ngại thì tối nay ngủ lại nhà tôi cho vui. Nhà chỉ có hai bà cháu thôi hà!

Bà khách già nói cảm ơn, rồi quay sang người đàn ông có vẻ mặt đăm đăm, hỏi khẽ:

- Thưa thầy! Như vậy có được không ạ?

Người được kêu là “thầy” cắn môi, ngập ngừng:

- Gia đình nghỉ đâu… tôi nghỉ đó! Nhưng phải tìm mộ xong, xem giờ giấc đàng hoàng rồi thuê người đào lên nữa đấy...

*

*     *

Gần chục đàn ông trong ấp tình nguyện đào tìm mộ giúp. Gì chớ việc từ thiện nầy ai dám lấy tiền mà thuê mướn. Một chiếc chiếu mang từ trên xe xuống, trải trên nền đất thuộc nương mì nhà ông Tám Ròm. Hoa trái, oản, nước ngọt, thuốc lá bày cả lên chiếc đĩa lớn. Bó nhang lớn đốt lên, khói hương nghi ngút. Người đàn ông có vẻ mặt đăm đăm được giới thiệu là “nhà ngoại cảm”. Nghe nói “thầy” giỏi lắm! “Thầy” đã tìm ra bao nhiêu là mộ thất lạc rồi đấy. “Nhà ngoại cảm” xì xụp khấn vái, mắt đảo nhìn ngang, nhìn dọc, ngoảnh lại cả phía sau, mơ hồ... Bất giác “thầy” thở phì phì làm cả đám người ngồi đứng xung quanh giật mình.

Đưa nắm nhang cháy đỏ cho bà khách già, “thầy” bảo:

- Cụ đi quanh khu đất bên trái kia nhé, ba mét cắm một cây nhang. Xong rồi quay lại kiểm tra, cây nào tắt là dưới đó có mộ!

Bà cụ cầm nắm nhang đang cháy, kính cẩn từng bước chân, miệng lầm rầm khấn. Cả đám người hồi hộp theo dõi. Hàng cây nhang dài dần ra, liêu xiêu bên này, bên kia, theo bước chân liêu xiêu của bà già. Những đốm nhang đỏ lập lòe như những con mắt âm hồn. Người phụ nữ trẻ nhìn theo mẹ, đếm từng cây nhang đỏ. Chưa có cây nào tắt. Bỗng cô phát hiện những dấu tròn nhỏ in hằn trên đất, bám theo từng dấu chân lẩy bẩy của bà mẹ. Từng vết, từng vết, tròn như đồng xu lớn, lún xuống đất vì sức nặng nào đó. Có tiếng xì xầm:

- Ông Sáu cụt ra kìa. Ổng đi theo bà già làm gì ta?

Đằng sau bà khách già chừng mười mét, nhúc nhắc một cây tó tự đóng bằng gỗ, chỗ nắm tay bắt mồ hôi vàng sậm, bóng loáng. Những dấu tròn lún trên đất khép dần lại theo hàng cây nhang...

Ông Sáu cụt già quắt, tóc dài phủ vai lốm đốm muối tiêu. Chiếc quần cụt một bên ống đủ che khúc chân cụt, bên trái lòi ra ống chân phèn mốc, khẳng khiu. Ông là thương binh, người miền Tây, quê đâu ở Tiền Giang. Chiến tranh xong thấy ông cất lều cặp mí rừng, ở một mình đến giờ. Nghe nói ông Sáu cụt bị mìn phạt ngang chân, lại bị miếng pháo găm vô đầu, nên tính khí thất thường, nóng giận, vui cười vô lối... Giờ ông tập tễnh bước theo bà già như bị ma ám. Nắm nhang đã cắm hết. Bà già quay lại từng bước, từng bước, mắt đỏ hoe nhìn chăm chú lên từng cây nhang. Từng hàng, từng hàng cây nhang vẫn lập lòe những con mắt đỏ. Không cây nào bị tắt cả. Đám đông cả chủ lẫn khách đều nhìn vô mặt “nhà ngoại cảm”. Ông ta vẫn ngồi xếp bằng trên chiếu, tay chắp trước ngực, mắt nhắm tịt. Ông Sáu cụt vén mớ tóc lòa xòa ra sau gáy, cất tiếng hỏi bà già đang liêu xiêu đi phía trước ông:

- Bộ đội địa phương hay chủ lực?

Bà già dừng chân:

- Là ông hỏi cháu Văn nhà tôi ạ?

- Tôi hỏi liệt sĩ nhà ta đang đi tìm đó!

- Con trai tôi. Quê cháu ở Bắc Ninh. Cháu hy sinh năm bảy mốt. Tôi cũng chẳng biết là bộ đội địa phương hay chủ lực...

Ông Sáu chợt à lên như lượm được bạc.

- Bắc Ninh hả? Quan họ hả? Năm đó có mấy anh Bắc Ninh ở kế đơn vị tôi, còn dạy tôi hát đó!

Rồi ông đứng thẳng trên cây tó, miệng ư ử hát: Bèo dạt.. mây ì i trôi… anh ơi, em vẫn đợi bèo i dạt, mây í ì trôi… Phải vậy hông?

Cả đám người cười phì, rồi im bặt. Người phụ nữ trẻ nãy giờ ngồi quan sát, bỗng chạy tới bên ông Sáu cụt.

- Bác! Bác có biết anh Văn cháu không ạ?

- Văn nào? Bao nhiêu tuổi?

- Dạ! Nếu còn sống, năm nay anh cháu 60 tuổi rồi ạ!

- Hừ! Vậy là bằng tuổi tôi. Ở đơn vị nào?

- Dạ, xê 2, dê 7, e 131, ép… hy sinh năm bảy mốt!

Người phụ nữ đọc một hơi như thuộc lòng. Ông Sáu nhịp nhịp cánh tay không chống tó, rồi la lên:

- Đúng rồi! E một ba một ém quân trên Ngọc Hồi, đụng đầu bọn sư hai lăm ngụy hoài chớ đâu. Đơn vị tôi phối thuộc với mấy ổng cả mười mấy trận lận.

Bà khách già vội níu lấy cây tó, như muốn dựa vào đó.

- Bác ơi! Thế Ngọc Hồi ở đâu ạ?

- Cách đây hơn sáu chục cây số lận!

- Cơ mà… thầy ngoại cảm nói cháu nó nằm ở đây?

Ông Sáu nhăn trán, rồi quả quyết:

- Hổng có! Nơi đây có trung đội du kích, lâu lâu tiểu đoàn mười bộ đội địa phương có về ùng oàng vài trận. E một ba một không uýnh ở đây. Nói tầm xàm!

Ông Sáu chợt nổi nóng, vung cây tó đập xuống đất bụi mù.

- Cả nhà lên xe, tôi đưa tới Ngọc Hồi liền giờ. Chỗ nông trường cao su, năm bảy mốt có mấy ngôi mộ kế bên con suối Ngà đó!

Những cây nhang vẫn cháy đỏ, không có cây nào tắt.

Đám đông tần ngần đứng im, mấy cái cuốc, cây vá nằm ngổn ngang...

Số người đi tìm mộ thì mừng quá, mà chưa biết giải quyết việc này ra sao. Nhưng ông Sáu đã kêu tài xế mở cửa xe, ngồi ngay ghế đầu. Ông xếp gọn cây tó xuống gầm ghế, lớn tiếng gọi:

- Thôi bỏ! Lên xe lẹ tôi đưa đi liền, không tới trễ trời tối ù đó!

Bà khách già còn có vẻ lưỡng lự, bà muốn hỏi ý kiến “nhà ngoại cảm”. Bà đảo mắt, rồi quay vô lại quay ra, vẫn không thấy “thầy” đâu. Trên chiếu vẫn còn đĩa đồ lễ và mấy lon bia...

Một người dân chỉ tay về phía quán bà Út:

- Thấy ổng hỏi đường vô nhà vệ sinh, nãy giờ còn ở trỏng, chưa thấy ra!

Truyện ngắn của PHÙNG PHƯƠNG QUÝ