Ngẩng lên, một ông già rất phúc hậu, đẹp lão, râu dài trắng xóa, áo vét nguyên cà vạt, bên trong áo sơ mi trắng, quần âu nhưng... đi dép. Trên cổ ông là một đứa bé trai. Nó vừa tè một phát từ cổ ông xuống đất.

Tôi đã ở Pleiku mấy ngày rồi, nên biết rằng mùa này mà mặc áo trắng thì phải là loại rất... xa xỉ. Bởi hồi ấy thành phố chưa nhựa hóa, bê tông hóa nhiều như bây giờ, đất đỏ là chủ yếu. Mà mùa khô, gió lồng lộng, nên đất đỏ bay tứ tung, nhiều khi có hẳn những cuộn gió toàn đất đỏ cuốn lên cao tít như vòi rồng. Nói tóm lại, mỗi ngày thay hai bộ đồ mà vẫn bẩn, chưa kể nước rất hiếm. Thế mà có ông già chơi áo trắng thì rất nể. Hôm sau, tôi được dự cuộc họp bàn chuyện đón nhà văn Nikulin, người Liên Xô, chuyên gia văn học Việt Nam. Ông Núp sẽ là người đọc diễn văn trong cuộc nói chuyện của ông Nikulin tại nhà văn hóa và ông Nikulin cũng sẽ đến thăm nhà ông Núp. Tôi được giao soạn bài phát biểu cho ông Núp. Yêu cầu: Viết tay, chữ to, rõ ràng, không quá nửa trang giấy pơ-luya đánh máy, tương đương tờ giấy khổ A4 bây giờ.

leftcenterrightdel
Tác giả (ngoài cùng, bên phải) và các đồng nghiệp chụp ảnh kỷ niệm với Anh hùng Núp, tháng 3-1982. Ảnh tư liệu

Tất nhiên là phải tìm ông để xem ông định nói gì để viết. Ơ ông già hôm qua mình gặp đây mà, Núp đây mà, nhân vật “Đất nước đứng lên” lừng danh đây mà! Thì ra, thằng bé ngồi trên cổ ông, tè từ cổ ông xuống đất, tưới đẫm bộ com lê của ông... là cháu nội ông, chiều nào ông cũng cõng nó ra đường chơi...

Tối hôm sau, vẫn bộ com lê ấy, nhưng ông đi dép rọ bộ đội, quần xắn lên một gấu, ông lên sân khấu đọc bài đón ông Nikulin đến thăm và nói chuyện với nhân dân Pleiku. Sau đấy thì tôi liên tục có các cuộc đi công tác với ông. Đa phần là tôi tìm cách để xin đi với ông. Tôi có được chơi và quen biết với một số trí thức và cán bộ người dân tộc Tây Nguyên, chủ yếu là người Gia Rai và Ba Na, trong đó, theo tôi hai người mang chất Tây Nguyên hết sức đậm đặc là họa sĩ Xu Man và ông Núp. Đây là hai người Ba Na đã từng ra Bắc học, từng đi nước ngoài nhiều, nhưng khi về làng, họ lại trở về với Tây Nguyên thứ thiệt, Tây Nguyên cốt cách, Tây Nguyên bản chất và bản sắc, Tây Nguyên “lũ làng” chan hòa dân dã và bình dị, như sinh ra đã thế, như chưa từng ra khỏi làng, chưa từng rời xa cái bếp lửa luôn rừng rực giữa ngôi nhà sàn bình dị, luôn quây quần bên ấy những con người hay cười, tay luôn vít cần và hồn nhiên như cây cỏ... Ông Núp luôn là vậy. Ra Bắc, đi học, làm cán bộ, rồi trở lại quê, ông giữ nguyên cốt cách Ba Na, cốt cách Tây Nguyên của mình. Từ cái cách địu người con trai xuyên Việt ra Bắc, đến trở về nối dây với bà Ch’rơ (em gái bà Liêu trong “Đất nước đứng lên” ông cưới trước khi ra Bắc, sau đó bà H’liêu mất vì bệnh), rồi lang thang xuống làng như một nhu cầu thường trực. Tôi từng nhiều lần theo ông xuống làng, và thế tức là, chưa biết ngày nào sẽ về, chưa biết sẽ dừng ở đâu, cũng chưa biết làng sẽ tới ngày mai là làng nào. Ông là người Tây Nguyên lãng mạn nhất mà tôi gặp. Đi và đi, cứ miên man tít mù đi, ít có khái niệm dừng hoặc quay về. Và khi về nhà ông, cái phòng bé tí trong khu tập thể Mặt trận tỉnh trên đường Trần Hưng Đạo, ông như một con người khác, chỉ ngồi, ít nói, như đang mơ tưởng về đâu đó xa lắm, khác hẳn cái tư thế chủ động, hoạt bát, năng nổ khi ông về làng, lên một ngôi nhà sàn nào đấy giữa dân làng, bên ghè rượu, bếp lửa... hoặc một ngôi nhà nào đấy, chủ nhà vần ghè rượu ra và nồi cơm nghi ngút, đĩa cá khô nướng giã muối. Ông ăn cơm bốc bằng tay với họ, tưng bừng và hết mình.

Nối dây là một phong tục của người Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số sống dọc dãy Trường Sơn, bảo nó lạc hậu cũng được mà bảo nó... nhân văn cũng chí lý. Nó là sản phẩm đặc trưng của chế độ mẫu hệ. Nếu chẳng may vợ chết đi (mà điều này rất hay xảy ra ở thời Tây Nguyên còn lạc hậu, phụ nữ khi sinh nở bắt buộc phải vào rừng tự làm chòi để sinh một mình), thì một người trong nhà vợ, chủ yếu là em vợ hoặc không có em gái thì là chị, dì, cháu... được cử ra để nối dây. Và ông Núp đã tuân thủ luật lệ dân tộc mình, sau khi đã từ hôn với nghệ sĩ H’ben ông tái hôn khi ở Hà Nội, để về quê, giữa những ngày bom đạn sinh tử nhất, nối dây với em gái người vợ đầu H’liêu của mình tên là Ch’rơ. Chính bà Ch’rơ là người sống lâu nhất với ông Núp, là cây gậy chống, là hộ lý, là vợ, là tình nhân... của ông Núp suốt hơn 10 năm cuối đời của ông. Sau khi ông mất, bà Ch’rơ về quê, chính là cái làng Kông Hoa trong “Đất nước đứng lên” ấy, sống với con dâu và cháu nội, mấy đứa cháu đều học Trường Đại học Văn hóa-Nghệ thuật Quân đội thời cố nhạc sĩ An Thuyên còn làm hiệu trưởng. Chính nhạc sĩ An Thuyên đã mang vở nhạc kịch “Đất nước đứng lên” của mình về diễn tại làng này, mấy người cháu nội của ông Núp có tham gia vở diễn...

Trận sốt rét rừng đầu tiên của tôi-“dấu chứng nhận Tây Nguyên” của tôi-cũng là từ một chuyến đi với Anh hùng Núp. Lần ấy, chúng tôi xuống Chiến khu Dân Chủ, nơi ngày xưa ông Núp sống và hoạt động. Đi từ sáng sớm, cứ tưởng tầm trưa thì tới, thăm và làm việc xong thì tối về nên chả chuẩn bị gì. Ai dè trên đường ông bảo ghé hết làng này tới làng khác, nên phải tới 8 giờ tối mới tới nơi cần đến. Giữa rừng sâu thăm thẳm chả có gì ăn, ông thì sà ngay vào với dân làng, kệ tôi với anh lái xe. Chừng tiếng đồng hồ sau thì mấy anh du kích khiêng tới một... con chó. Thế là tôi và anh lái xe của ông trở thành đao phủ và đầu bếp bất đắc dĩ khi trong tay chỉ có con dao găm, dân làng chỉ có muối. May thay, ven suối có nhiều sả và lá lốt. Hơn một tiếng đồng hồ bên suối, vừa làm vừa méo mặt với những con muỗi kềnh càng như... ruồi trâu, một nồi hỗn độn thịt chó của chúng tôi cũng xong. Đến hơn 3 giờ sáng thì chúng tôi mới xong bữa tiệc có một không hai ấy. Về nhà 3 ngày sau thì tôi bị sốt rét vật và đấy là “chứng chỉ Tây Nguyên” của tôi...

Hôm ông Núp mất, thi hài ông được quàn ở hội trường tỉnh ủy. Tang lễ kết hợp giữa nghi thức nhà binh với phong tục truyền thống Việt và Tây Nguyên. Tức là có tiêu binh điều lệnh, có thắp hương và có cả cồng chiêng. Điều lạ là, rất nhiều người dân bình thường khắp trong vùng đã đến viếng ông. Đến khi đã chuẩn bị di quan, đội tiêu binh đã vào vị trí, khẩu lệnh đã vang lên, vẫn có hơn chục người, là các chị bán vé số, chạy vội vào viếng ông. Họ lạy rất thành kính, rất đúng bài bản, như lạy vĩnh biệt một người ông trong gia đình. Họ biết tin muộn, đã bỏ cả buổi bán hàng đến để chia tay ông. Thế là nghi lễ đã phải dừng lại một lúc để chờ những người dân làm thủ tục nghĩa tử. Đoàn người tiễn ông tới nghĩa trang liệt sĩ đông đến mức đầu đoàn đã tới nơi mà cuối đoàn vẫn còn ở... hội trường.

Anh hùng Núp của đồng bào Tây Nguyên là thế!

VĂN CÔNG HÙNG