Chả biết tự khi nào, những câu thơ của Bằng Việt cứ thấm vào hồn và tôi khe khẽ ngân lên chỉ vừa đủ cho mình nghe mỗi khi nỗi nhớ dâng trào. Tôi trở lại những bờ đường mùa xuân/ Cây già trắng lá/ Ôi thành phố tôi yêu kỳ lạ...

Tháng Mười năm 1975, từ đơn vị bộ binh thuộc Sư đoàn Sông Lam B, thay vì theo trung đoàn hành quân vào Quảng Bình khôi phục tuyến đường sắt Minh Cầm-Tiên An, tôi và một số đồng đội được chuyển về Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ). Chuyến tàu hỏa khởi hành từ ga Vinh lặc lè đưa chúng tôi tới ga Hàng Cỏ vào lúc rạng sáng. Sau giấc ngủ “nhát gừng”, lần đầu được thấy phố phường Hà Nội trong buổi sớm tinh sương, cánh lính trẻ chúng tôi đã không sao kìm nén được lòng mình. Tất cả cùng ồ lên lao xao... Giống như chim chích lạc rừng xanh, những gã trai lộc ngộc tuổi mười tám, đôi mươi ngó nghiêng, ngắm Thủ đô qua ô cửa con tàu và khoảng trống trên sân ga. Thoáng một cơn gió lạnh hun hút, nhưng chả ai chịu ngồi yên vị. Tuổi trẻ mà! Trong chúng tôi, không ít người lòng vẫn thầm ngóng dù biết là hết sức vu vơ, rằng biết đâu mình sẽ gặp được người quen, hoặc bạn bè cùng trang lứa đã vào đại học. Và xuýt xoa khi bắt gặp bóng hình cô gái Hà thành xinh đẹp, duyên dáng với giọng nói đầy âm sắc trong veo. Thế nhưng, chỉ sau hơn một giờ nghỉ ngơi ở sân ga Hàng Cỏ, chúng tôi lại tiếp tục ngược tàu về mạn Bắc Giang...

leftcenterrightdel
Minh họa: KHÔI NGUYÊN

Từ đó, vì công việc chung-riêng, hằng quý tôi xuôi về Hà Nội một đôi lần. Ngày ấy, Cục Kỹ thuật Quân chủng PK-KQ đóng trên đường Tàu Bay (nay là đường Trường Chinh), con đường nhỏ lầm bụi và rợp bóng xà cừ. Ngoại trừ thi thoảng mới được bám nhờ xe của đơn vị, còn thì cứ phải rồng rắn xếp hàng mua vé xe ca đi hai chặng mới về tới Bến Nứa, rồi cuốc bộ ra ga tàu điện, ngược về trạm khách tồi tàn ngay lối vào Kho Gạo, nay là phố Vương Thừa Vũ. Sau này, vài bận hăng hái, tôi guồng xe đạp từ phố Thắng (Hiệp Hòa-Bắc Giang), vượt đò Lo sang chợ Chờ, băng qua Từ Sơn về Hà Nội. Bao giờ cũng vậy, sau khi xong việc tôi thường ra trước gò Đống Đa đón tàu điện xuôi Bờ Hồ. Mỗi chuyến tàu chỉ có hai, ba toa màu sơn vàng, khung viền đỏ cũ kỹ, chạy cà rịch cà tàng, nhưng tiếng chuông leng keng… nghe rộn rã, vui tai lắm lắm. Ngồi tàu điện có cái thú là tha hồ quan sát cảnh vật và con người, từ phố Tây Sơn đến Hàng Bột, rồi Hàng Bông… Điểm đến đầu tiên của tôi bao giờ cũng là Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền, lượn một vòng từ dưới lên lầu, thỏa sức ngắm nhìn các gian hàng hóa và cảnh người mua bán...

Rời Bách hóa tổng hợp, rảo dọc vỉa hè, thể nào đôi chân cũng lái vô quầy kem Tràng Tiền để thưởng thức một hai que kem bù cho những giọt mồ hôi đang rỉ rả nơi lưng áo. Không có chỗ ngồi, thì cứ việc đứng xơi ngay tại chỗ. Quanh sàn xi măng la liệt những que tre, nước đọng thành vũng màu nâu sệt. Mặc, thiên hạ vẫn cứ rồng rắn nối đuôi nhau, mắt ngời sáng vì được thưởng thức món quà vặt tự do. Chút ngon ngọt cỏn con ấy, thật khó ai cầm lòng cho đặng! Từ đây, dấn thêm một quãng ngắn, là tới cửa hàng sách quốc văn khá đồ sộ. Và đập vào mắt là Nhà hát Lớn, thánh đường của nghệ thuật… Thời bấy giờ, có lẽ sách là món hàng duy nhất được bày bán tự do mà không cần phải qua một kênh phân phối nào cả. Cho nên cứ tha hồ mà lựa chọn, miễn là trong túi còn tiền...

Mỗi khi nhớ bạn bè, tôi thường nhảy tàu điện xuôi Hà Đông, đến ga Thanh Xuân thì xuống. Rẽ phải vào Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp thăm mấy người bạn đồng môn cấp ba Đức Thọ; dấn thêm một đoạn rẽ trái ngay cạnh đường là tấp vào chỗ mấy người bạn khác đang theo học Trường Đại học An ninh. Thời ấy, nghèo tiền bạc nhưng giàu tấm lòng bè bạn. Hễ gặp nhau là vui quấn quýt, nằm gác chân lên nhau trò chuyện thâu đêm, sáng ra chia nhau một ổ bánh mì suông rồi mỗi người một ngả. Vậy mà cứ thương nhau, nhớ nhau hoài…

Có lần đi dạo quanh Bờ Hồ, qua cầu Thê Húc, vào thăm đền Ngọc Sơn và ngắm cụ rùa trong tủ kính, từ nhà hàng Thủy Tạ đi lòng vòng tình cờ tôi nhìn thấy hiệu ảnh Quốc tế nằm trên phố Hàng Khay. Sự tò mò khiến tôi đánh bạo vào cửa hiệu thử một “pô” làm kỷ niệm. Nhờ vậy mà tận bây giờ, tôi vẫn giữ được tấm ảnh quân phục in trên giấy lụa thật đẹp. Cận Tết Mậu Ngọ năm 1978, tôi được đơn vị cho đi tranh thủ về thăm quê, nhưng để mua được một chiếc vé tàu là cực kỳ gian nan. Trong thời gian lưu lại ở nhà một người bác họ ở phố Trần Quý Cáp, tôi lần ra tận khu Tượng đài Khâm Thiên được dựng từ mấy năm trước. Trong làn mưa nhẹ rắc rây, tôi lặng ngắm bức tượng người mẹ nâng hình hài con thơ trên tay, mặc cho cái lạnh như kim châm vào da thịt. Mường tượng lại khung cảnh cả khu phố sầm uất tan hoang dưới làn mưa bom B-52 của Mỹ. Ấn tượng ấy chính là một trong những gợi ý giúp tôi mấy chục năm sau tái hiện lại cuộc chiến đầy bi tráng của quân và dân Thủ đô đã làm nên trận “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” cuối tháng 12-1972, qua 50 tập phim truyện “Cao hơn bầu trời” do Hãng phim Giải Phóng sản xuất. Trong kịch bản phim có một gia đình người Hà Nội ở trong ngõ Tạm Thương. Đó là bà cụ Tứ với người con trai là Trung tá Trần Thạnh công tác ở Quân chủng PK-KQ và người con gái của cụ là Kiều Liên, nữ tự vệ Nhà máy Dệt 8-3. Với tác phẩm này, tôi cảm thấy như mình đã phần nào trả được món nợ ân tình đối với đất và người Thủ đô.

Mùa thu năm 1980, khi được quân chủng điều chuyển vào Nha Trang, thoạt đầu ra phố, lắm lúc tôi không khỏi giật mình ngoái lại, ngỡ như tàu điện đang trờ tới ngay sau lưng mình. Hóa ra, tiếng sồng sộc của chiếc máy ép nước mía quay tay, khiến tôi quay quắt nhớ về Hà Nội của một thời bao cấp gian khó. Nhớ người bác họ ở ga Hà Nội đã tất tả ngược xuôi lo tìm mua bằng được tấm vé tàu cho tôi năm nào… Sau này, mỗi lần trở lại Thủ đô, thấy đường tàu điện bị bóc gỡ, rất nhiều ao hồ mất dạng, tôi không khỏi có chút hẫng hụt, châng lâng nuối tiếc... Nhưng rồi lại tự an ủi mình, thành phố được mở mang ra thì tất yếu phải dỡ bỏ những gì không còn phù hợp nữa. Thủ đô ngàn năm văn hiến tất nhiên phải xứng với cái tên Thăng Long, rồng lên mà hàng triệu con tim mong đợi và kỳ vọng. Và tôi thêm hiểu câu thơ của một nhà thơ thời chống Mỹ: Tấm lòng Hà Nội thiêng liêng/ Vẫn vẹn nguyên sau rất nhiều từng trải...

Những năm gần đây, tôi vẫn thường xuyên ra Hà Nội, lần nào cũng chỉ nhếnh nháng dăm ba ngày rồi lại đi, nhưng tôi luôn coi như là dịp nạp thêm năng lượng tinh thần cho dặm dài phía trước. Chốn hồn thiêng sông núi tụ về luôn sưởi ấm lòng những đứa con xa. Chao ôi nhớ những hàng quà rong Hà Nội, từ món cốm Vòng gói ủ lá sen, đến phở Bát Đàn, bánh cuốn Thanh Trì với nước mắm cà cuống, hay bình dị hơn chỉ là lát cơm nắm thật khéo chấm muối vừng... Với tôi, chỉ riêng một việc luôn nghĩ và nhớ về Hà Nội cũng đủ hạnh phúc lắm rồi! Xin cảm ơn nhà thơ Bằng Việt đã nói hộ lòng mình: Dù nhiều điều tôi nhớ, tôi quên/ Nhưng Hà Nội trong tôi là vĩnh viễn!  

Tản văn của NGUYỄN MINH NGỌC