Vì suốt cả cuộc đời, lão chỉ biết cần mẫn gắn liền với công việc nuôi trâu, nuôi bò. Thế thì cần xưng tên xưng tuổi với thiên hạ để làm gì, lão quan niệm tên tuổi cũng chỉ là bãi cỏ xanh mùa mưa đến thì nảy mầm xanh mượt, mùa khô đến thì một que diêm thôi cũng đủ cháy bùng, vô thường tất cả…

Lão Mục sống hiền từ nhân hậu không mếch lòng ai bao giờ. Trâu bò lão nuôi, chúng sinh con đẻ cái quanh năm, nhiều vô kể. Mỗi buổi sáng lão lùa chúng ra đồng rùng rùng chuyển động một góc làng. Lão yêu thương chúng như con cháu, nhưng lão cũng yêu quý bà con hàng xóm lắm. Cứ vào các dịp lễ tết, lão sẵn sàng tặng bà con trong làng một hai con bò hay con trâu để chia thịt liên hoan, mỗi nhà vài ký ăn lấy thảo. Nhà ai nghèo khó quá, lão cũng sẵn sàng tặng một hai con nghé, con bê để nuôi làm vốn liếng…

leftcenterrightdel
Minh họa: QUANG CƯỜNG

Nói chung, lão sống chan hòa và rất tình nghĩa với bà con làng xóm, hầu như trong con người của lão không bao giờ tồn tại mấy chữ tính toán, so đo.

*

*     *

Bữa đó trời mưa phùn, cả cánh đồng như chìm trong một màn trắng bạc. Tôi ghé vào căn chòi của lão. Lão vui vẻ rót cho tôi ly trà nóng và đưa rê thuốc cho tôi vấn. Lão nói:

- Mưa lạnh như vầy, uống ly trà và hút điếu thuốc chơi đi thầy giáo, rồi mình tính tiếp!

Tôi là hàng xóm lâu nay của lão, biết tôi có vài ba chữ nên lão rất quý tôi. Tôi cũng rất quý trọng con người chất phác, hiền lành của lão. Vì vậy, có chuyện gì tôi và lão cũng thường bên nhau. Hằng ngày lão lo việc đồng áng với đàn gia súc, còn tôi tuy đã nghỉ dạy học lâu rồi, nhưng vẫn còn lưu luyến với sách vở. Những buổi trời chiều thong thả, lão và tôi hay làm vài ly rượu đế, nhắm chút gì đó mà tha hồ ngẫm nghĩ chuyện đời.

Hôm đó lão lúi húi nướng xong con khô, lấy chai rượu trong cái giỏ đệm bày ra trên chiếc chiếu. Lão nói với tôi:

- Mình làm thứ này đi thầy giáo! Đời mình có gì vui hơn thứ này đâu…

Lão rót cho tôi một ly, rồi lão một ly… Có chút men cay vào người, đôi mắt sâu của lão như trở về cái thế giới xa xưa… Lão lại bắt đầu tâm sự:

- Thầy giáo ạ! Từ nhỏ cho đến giờ, tôi chưa bao giờ đặt chân đến trường đến lớp, nhưng tôi lại được trời thương và ban cho một đặc ân là khả năng nói chuyện với trâu bò…

Đó là câu dạo đầu thường xuyên của lão… Bao giờ uống rượu với tôi, lão cũng bắt đầu như thế. Mà quả đúng là vậy, trong mắt tôi lão là một con người thần kỳ… Lão chăn thả trâu bò trong suốt hơn 50 năm qua nhưng chưa bao giờ lão dùng đến roi hay đót. Lão hiểu tính nết từng con vật một, mỗi con trâu hay bò của lão đều có một cái tên. Hễ lão gọi chúng là chúng chạy lại, lão nói là chúng nghe, lão thương chúng như con cháu, chúng kính yêu lão như ông nội, ông ngoại của mình. Có lần lão đi đâu đó xa vài ngày là chúng nhớ lão đến bỏ ăn. Lão về đến nhà là chúng tỏ ra giận dỗi, lão lại phải dỗ dành vuốt ve chúng như vuốt ve trẻ nhỏ thân yêu...

Tôi lấy tờ báo giắt trong cặp ra nói với lão:

- Phải là lão đây không hở lão Mục?

Lão chỉ cười hề hề và không mấy bận tâm, lão nói như đùa đùa:

- Có gì to tát đâu thầy giáo ơi! Thì cũng chỉ là chuyện chăn trâu cắt cỏ trên đồng thôi mà…

Thật ra có ai ngờ bấy lâu nay tôi làm hàng xóm, uống rượu thường ngày với một tượng đài vĩ đại mà không hề hay biết? Người ta chụp hình lão đang cầm bó cỏ cho con bê ăn với nụ cười đôn hậu… Và người ta viết về lão cũng thật hay, hay như một câu chuyện cổ tích giữa đời thường vậy. Thì ra lão Mục bấy lâu làm nghề chăn nuôi trâu bò vậy nhưng lão đã từng lập được chiến công oanh liệt. Thời chiến tranh, lão từng là dũng sĩ nuôi quân, lão chăn nuôi biết bao đàn gia súc để cung cấp lương thực cho quân đội. Ba lần lão được tặng thưởng huân chương. Đó là những danh hiệu vẻ vang mà biết bao kẻ nằm mơ cũng không dám. Nhưng đó là chuyện hồi nào, bây giờ lão chẳng lấy đó làm điều. Lão chỉ xem đó là trách nhiệm của lão với hoàn cảnh nước nhà lúc binh đao khói lửa và đó chẳng qua là hạt cát mà lão đóng góp trong công cuộc vĩ đại của dân tộc. Nói cho ngay, cái mà lão quan tâm nhất hiện nay, đó là sớm sớm ra đồng cùng đàn trâu bò, chiều về cùng với chúng. Tâm hồn của lão thả cùng mây trời và bay theo từng con gió lộng. Bước chân lang thang của lão rong ruổi cùng ngày mưa tháng nắng, cùng tình nghĩa xóm làng, trái tim của lão dành hết cho đất nước quê hương…

Đời lão chỉ có thế!

Dốc hết ly rượu cuối cùng, lão nói với tôi:

- Mai là ngày giỗ của mẹ con bé, tôi làm mâm cơm, thầy giáo bỏ chút thì giờ qua nhà tôi uống với tôi vài ly rượu. Nhé!

Tôi cầm đôi bàn tay nồng ấm của lão, vỗ nhè nhẹ vào vai lão:

- Mai tôi sẽ qua với lão, mình là hàng xóm mà…

Những hạt mưa bụi nhỏ li ti và nhẹ tênh như cám rơi vãi khắp cánh đồng, mưa rơi có cảm giác làm ướt áo nhưng nhìn gần thì chẳng thấy mưa. Tiếng trâu bò ăn cỏ trên cánh đồng xa xa như tiếng người gọi bạn, dễ gây cho lòng người cảm giác bâng khuâng khó tả…

*

*     *

Lão Mục chỉ có một đứa con gái duy nhất. Mẹ nó mất từ lúc nó còn đỏ hỏn, lão một mình gà trống nuôi con. Năm nay con bé tốt nghiệp trường sư phạm, nó đang tiến gần với ước mơ về làng dạy học. Vì nó rất yêu trẻ nhỏ, nhất là những trẻ nghèo khó trong làng. Với lại lão Mục cũng đã già yếu dần rồi, có con bên cạnh chăm sóc cha thì cửa nhà cũng bớt phần nào hiu quạnh. Nhìn con bé, tôi lại nhớ tới quãng đời ngày trước của mình. Ra trường với biết bao mơ ước, biết bao hoài bão, nhưng thực tế thì lại quá xa. Làm nghề dạy học xa nhà thì có khác gì khách thương hồ tha phương cầu thực. Cái mộng tưởng về một thế giới tốt đẹp phải đối mặt với bao phũ phàng của thực tế trong xã hội…

Bàn thờ thoang thoảng khói nhang. Nó nhìn bức di ảnh của người mẹ. Toát ra từ ánh mắt buồn buồn của người mẹ một tình thương vô bờ bến. Nó không nói gì thành tiếng, nhưng có lẽ nó đang tâm sự rất nhiều điều với bà mẹ. Nó hy vọng vào ngày mai nó sẽ được đi dạy học, nó được những em học trò nhỏ mà nó tận tình dạy dỗ gọi nó bằng cô, nó sẽ về nhà cơm nước cho cha sau mỗi buổi tan trường… Tất cả hạnh phúc trong tâm trí, nó hầu như nói cho mẹ nó trên kia cùng biết… Rồi nó thấy trong lòng nó đầy trách nhiệm và len vào chốn ấy một chút thảnh thơi…

Nó xá bàn thờ của mẹ ba cái rồi quay sang nói với cha:

- Cha ơi, mai con lên huyện nhận quyết định ạ!

Lão không giấu nổi vẻ mừng vui:

- Cả đời cha dốt nát, nay con học hành được vậy cha mừng lắm. Nhưng cha mừng hơn là con sẽ đem cái học được mà dạy dỗ cho con em làng mình.

Ngày hôm sau, mâm cơm cúng lão đã chuẩn bị xong đâu vào đó. Lão và tôi ngồi uống trà nói vài câu chuyện gẫu để chờ cái giây phút đón mừng con bé đi nhận quyết định về. Hương cháy sắp tàn trên bàn thờ nhưng vẫn thoang thoảng mùi thơm. Những tàn tro cứ cong queo chứng giám cho những sợi khói bay về miền hư ảo xa xôi…

Tiếng thắng xe kêu cái “két” rõ to. Con bé về đến nhà, nó dựng chiếc xe đạp ngay tại cửa, hai tròng mắt ầng ậng đỏ, nước mắt ứa ra và chảy dài trên hai gò má...

Nó nghẹn ngào nói với cha:

- Cha ơi, mấy đứa bạn con đều được dạy ở các trường điểm, trường gần nhà… Chỉ có con là phải đi tận xã vùng núi heo hút kia, xa dữ lắm cha ơi...

Lão sững sờ, nhưng rồi cũng kịp trấn tĩnh. Lão ôm đầu con vào ngực mà dỗ:

- Dạy ở đâu cũng là dạy học mà con. Vài năm thì người ta chuyển con về gần nhà thôi mà!

 Hai cha con im lặng một hồi lâu. Rồi lão lên tiếng tiếp:

- Thôi cứ đi dạy đi con, thiếu thốn gì về cha chu cấp thêm cho...

Con bé như sực nhớ ra điều gì:

- Cha ơi, hay cha lên huyện nói với họ xin cho con một tiếng đi cha. Trên đó còn nhiều chú bác biết cha mà!

Lão hiểu lắm cái ý của con gái mình. Nhưng đời của lão có khi nào quỵ lụy xin xỏ ai điều gì. Sự tự trọng bao giờ cũng ngự trị trong lòng của lão.

- Con gái ơi là con gái…. Cả đời cha chăn trâu chăn bò, cha chỉ hiểu rõ về trâu bò, cha chỉ nói chuyện được với trâu bò thôi con à!

Đứa con gái như hiểu được ý cha. Nó dụi cho khô nước mắt, đến trước bàn thờ mẹ xá ba xá rồi dọn cơm mời tôi và cha nó cùng ăn. Vừa ăn nó lại vừa thỏ thẻ:

- Cha cho con một con bê nha cha. Lên đó nó làm bạn với con. À, mà cha phải dạy cho con cách nói chuyện với nó nữa...

Lão cười và xoa đầu con. Ngoài cánh đồng, đám trâu bò đang kêu gọi lão om sòm, hình như chúng đang nhớ người anh hùng của chúng thì phải. Còn tôi, tôi hiểu những gì trong trái tim thơ ngây của con gái lão. Và tôi cũng hiểu nỗi lòng tê tái của người bạn già lúc này.

Lão cầm bình rượu rót cho tôi và cho lão mỗi người một ly.

- Thôi uống đi ông…!

Hai cái ly chạm nhau cho đủ tiếng vang. Người ta uống rượu thì cảm giác được vị, được hương, được màu của nó, chứ làm sao nghe được cái tiếng của rượu, dù đó là một tiếng nhỏ bé thì thầm.

Bất giác, tôi lại nhớ đến bài báo người ta viết về lão. Nếu không chăm chỉ với sách báo, chữ nghĩa, làm sao tôi biết được lão Mục của tôi từng là một dũng sĩ nuôi quân?

Truyện ngắn của ĐÀO THÁI SƠN