Lối mòn tôi và anh bạn từng cuốc bộ ngày nào nay đã được mở rộng theo tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, mặt nhựa còn đen bóng. Trước lúc đi, anh bạn gấp cẩn thận cái túi nâu, ấn sâu vào tận đáy túi xách, nói là để kiếm ít sỏi trắng và ít cát về rải trên lối ra vườn trước sân nhà.

Đứng trên đỉnh 79, nơi cao nhất của dãy núi Trường Lệ, chúng tôi có thể nhận ra bóng dừa, bóng cau thấp thoáng và những khoanh ruộng lúa, ngô lúp xúp của các thôn làng ở đông bắc quê mình. Hòn Trống Mái nằm ở phía dưới chân đồi 79 chừng ba trăm mét, gồm một phiến đá rộng bằng dăm chiếc chiếu đôi, trên đó có hai hòn đá màu nâu đen. Truyền thuyết kể rằng, thần linh đã hóa đá đôi vợ chồng trẻ, nghèo nhưng thương nhau thành đôi chim biểu tượng vĩnh hằng của hạnh phúc lứa đôi. Hòn đá lớn tượng trưng cho con Trống hơi nghiêng về phía đông. Hòn nhỏ chênh chao mộng mị là con Mái đậu ở phía tây. Nhưng rất có thể, xứ Sầm Thôn xưa chắn che bởi dãy Trường Lệ đã được tạo hóa chọn làm nơi giáng thế cặp Trống Mái để dương âm kết phối, biểu trưng sinh thực khí cho vạn vật giao hòa?

leftcenterrightdel
Minh họa: QUANG CƯỜNG

Ngày nay, mặt đá hòn Trống Mái đã không còn lởm nhởm, xù xì vì đã có biết bao bàn chân, đôi tay đặt lên đây. Phải khó nhọc lắm, người trông coi khu thắng tích tuổi còn khá trẻ mới có thể ngăn đám trẻ đang giơ tay kiễng chân túm níu hòn Trống, hòn Mái để chụp hình, quay clip... Tệ hơn nữa, vài cô cậu còn dán đôi tờ tiền lẻ vào bờ hông phiến đá rồi ký loằng ngoằng phía dưới để “cầu hên”(?). Chỉ khi đám trẻ đi rồi, người bảo vệ mới lẩm bẩm phàn nàn...

Hòn Mái bị xê dịch chừng gang tay đã hơn một năm nay rồi. Tôi giả thiết một vài nguyên nhân. Anh bạn tôi chỉ cười. Cái cười như không thỏa mãn với nhận định của tôi, nhưng cũng không hẳn phản đối. Và anh khi đó lại chọn vị trí xa hơn để có thể nhìn toàn cảnh hòn Trống Mái. Rồi anh trò chuyện với mấy cụ già bán đồ vàng hương, mãi một lúc sau anh mới xán tới gần hai hòn đá. Có lẽ anh bạn tôi đã nhận ra điều gì nên đôi mắt bỗng trở nên thăm thẳm, ưu tư.

Tưởng thế là xong việc mắt thấy tay sờ thì bất ngờ sáng hôm sau vừa ngủ dậy, mở điện thoại đã thấy trong mục tin nhắn, anh bạn gửi cho tôi bài thơ lục bát với mấy câu mở đầu:

                Nghe tin hòn Mái bất an

          Tình quê lòng những bàng hoàng âu lo

Và kết thúc bài thơ là:

               Cúi đầu lạy đấng cao xanh:

          Tin hòn Mái chẳng an lành là không!       

Cái cảm giác bất an về hòn Mái trong câu thơ đầy tâm trạng của anh bạn lan sang cả tôi. Cũng lạ thật, cái anh chàng nhà văn dáng lui cui, ánh cười giấu trong đáy mắt, thật đa đoan lắm nỗi. Hồi trước, đi bộ đội được sáu ngày thì anh đã được điều động ra đảo Hòn Mê làm pháo thủ, dạy văn hóa, làm “đạo diễn” cho đội văn nghệ xung kích của đơn vị. Rồi anh được cử đi du học ở Liên Xô (trước đây), tốt nghiệp về nước làm đủ thứ nghề liên quan đến chữ nghĩa: Viết văn, sáng tác kịch bản, dạy học... Đặc biệt, anh còn làm cả thợ nề được tấn phong chức “thợ cả”. Dù đã được đặt chân tới nhiều miền của nhiều lục địa; thưởng thức, chịu đựng cũng như chứng kiến biết bao biến cải, giờ lấy Thủ đô đất chật người đông làm quê hương thứ hai nhưng tính khí vẫn như phiến đá chẳng mấy đổi thay.

Sự dịch chuyển của hòn Mái so với định vị ban đầu không chỉ dừng ở đồn đoán mà rất có thể là sự thật. Nó không giống như hòn đá “tự lớn” mỗi năm cao thêm vài phân như dân gian truyền tụng ở chùa Trinh Tiết của tỉnh Hà Nam. Với công nghệ và trình độ khoa học bây giờ, việc tôn tạo nhằm bảo vệ giữ nguyên vị trí ban đầu của hòn đá chỉ là chuyện nhỏ. Nhưng rất có thể tính khí của những người cả lo, đa đoan như anh bạn tôi đây đã dự cảm sang một vấn đề khác: Đây không phải là hòn đá vô tri, nó có nội tâm lưu dấu những bí ẩn linh thiêng, có thể cất tiếng và sự xê dịch vị trí của nó đã báo hiệu một sự sang chấn về văn hóa nhiều hơn là sai lệch về tọa độ?

Vâng, có thể lắm chứ! Chỉ xin dẫn ra một ví dụ về sự di dịch văn hóa: Nhân loại đang bước vào thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), văn hóa cũng được toàn cầu hóa, hiện tượng “cấy” văn hóa cùng nhiều thứ phản văn hóa đã len lỏi thâm nhập vào từng ngõ ngách của đời sống xã hội; gây nên hiện tượng xê dịch văn hóa bản địa và văn hóa truyền thống. Xin lấy một ví dụ về sinh hoạt tín ngưỡng của một bộ phận người Việt: Nếu như Phật giáo coi cuộc sống con người là sự luân chuyển kiếp này sang kiếp khác, mỗi người phải gắng tu thân, hướng thiện để kiếp sau được hưởng thành quả do mình để lại từ kiếp trước thì giờ đây, nó bị xê dịch do không ít người đã dùng tiền và lễ vật quý hiếm để nhờ các vị sư hay ông thầy dâng sao giải hạn cầu xin phúc phận. Cũng có thể dẫn thêm: Nơi chùa chiền đáng ra phải là chốn thanh tịnh, trầm mặc thì bây giờ lại trở nên vui vẻ, tấp nập, nhiều chỗ được tu sửa trông điệu đà, sang chảnh rất... hợp mốt (!)

Như vậy, chính con người chứ không phải thế lực nào khác đã tác động dẫn tới làm lay chuyển những giá trị lâu nay được coi như bất biến. Như anh bạn tôi đây: Lương tri thao thức, tâm hồn luôn đau đáu những xa xót về nhân thế, mà anh đã kiên trì, lặng lẽ đồng hành trong hàng ngũ trí thức chân chính. Họ đã không chỉ dừng lại ở chỗ biết nhận ra nỗi đau, mà tất cả đang sống cùng nhân dân với một nội tâm mãnh liệt. Mỗi năm vài lần tham gia trại viết theo đề án của ngành, của hội, còn đa phần những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận văn hóa đã phải dùng đồng lương hạn hẹp của mình, gần thì đi xe ôm, xe buýt; xa hơn thì theo xe tuyến, tàu suốt vào tận vùng cực Nam dữ dằn sóng nước hay bản làng trập trùng đèo dốc vùng Tây Bắc để thấu rõ hơn cuộc sống của các tầng lớp nhân dân. Để từ đó họ rút ruột nhả tơ, sáng tạo ra hàng nghìn trang thơ, bút ký, truyện ngắn, tiểu thuyết, bức tranh, bản nhạc... phản ánh không khí nóng bỏng, rộn rực hay những uẩn khúc của cuộc sống đương đại. Những tác phẩm ấy không những giúp bạn đọc tìm hiểu, để rồi sẻ chia với người dân vùng khó khăn những thiệt thòi túng thiếu, mà còn giúp cho các nhà hoạch định chính sách, quản lý xã hội thêm những cách tiếp cận thực tiễn một cách khoa học và thiết thực hơn.

Mong mỏi của những văn nghệ sĩ như anh bạn tôi thật đáng quý. Bởi, ngoài cơm ăn áo mặc đủ đầy đối với mỗi người dân, thì nét tốt đẹp của văn hóa truyền thống phải được chăm sóc bảo giữ, vì nó là nét đặc trưng luôn đồng hành cùng sự đi lên của dân tộc.

Tản văn của LÊ VẠN QUỲNH