- Chú Năm Trần Bạch Đằng tuổi con Cọp (năm 1926), nhưng hiền lắm. Ổng tham gia cách mạng từ năm 1943, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên kháng chiến thời kỳ 1945-1954, sau này về phụ trách Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, gắn bó thân thiết với các văn nghệ sĩ cách mạng. Tôi may mắn được nhiều năm làm lính của chú, được học tập rất nhiều về đạo đức, tài năng của người thầy yêu kính...

Và thế là bao nhiêu kỷ niệm ùa về trong câu chuyện hồi ức của người nghệ sĩ cách mạng đã ngoài 90 tuổi...

leftcenterrightdel
Nhà lão thành cách mạng, nhà văn, nhà báo Trần Bạch Đằng (ảnh chụp năm 1985, tại TP Hồ Chí Minh)

Mùa khô năm 1960, gia đình cố vấn Ngô Đình Nhu có quyết định khai thác trắng rừng Tây Ninh, với hai mục đích là buôn lậu gỗ và làm cho Việt cộng không còn nơi trú ẩn. Đã có nhiều trận đụng độ giữa địch và lực lượng bảo vệ của Ban Tuyên huấn R (R là mật danh của Trung ương Cục miền Nam). Lực lượng bảo vệ vòng ngoài của ta lúc bấy giờ trang bị vũ khí vừa ít vừa thô sơ. Sợ đụng độ lâu ngày với địch, lực lượng bị tiêu hao, lộ bí mật căn cứ, Trung ương Cục quyết định rời cơ quan về căn cứ Mã Đà, Chiến khu Đ.

Đầu năm 1961 bắt đầu cuộc di dời. Suốt ba tháng trời chuyển “cứ” thật muôn vàn gian khổ và nguy hiểm, nên anh em bảo là chẳng kém gì cuộc “Vạn lý trường chinh”. Lần đầu, họ từ căn cứ của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục tại bàu Lùng Tung đi qua bàu Trâm Sừng, xuống suối Cây sang Tà Nốt để hướng về Chiến khu Đ. Rất nhiều lần, trên đường đi họ bị địch phục kích, phải vừa đánh vừa đi, mặc dù lực lượng mỏng, lại không phải đơn vị chiến đấu.

Từ Bàu Tròn qua Bổ Túc đến suối Kỳ Cùng của Chiến khu Dương Minh Châu, rừng ngan ngát hương xuân mới. Những cây mai rừng lớn nở bung hoa vàng rực rỡ, tiếng chim líu lo hót đón chào. Các cô trong đoàn nhờ cánh nam giới trèo lên cây bẻ mấy nhành mai cho họ gài lên nắp bồng, tiếng anh chàng nào đó hát nghêu ngao. Đến khi chuẩn bị vượt sông Sài Gòn, vận động qua đồng Bìm Bịp thì cả đoàn im lặng vì quá mệt mỏi. Tất cả nín thở, bám lưng nhau vượt trảng Dầu, sang lộ 13 đến Phú Giáo. Đói, khát, thân thể mỏi nhừ, vai đau nhức. Mấy cây đờn cò, đờn kìm, mấy chiếc bồng đựng tư trang nhẹ hều giờ thành cục đá nặng trĩu trên vai. Bàn chân bước đi theo quán tính, miệng mũi khô khốc, khó thở. Qua khỏi Xa Cam đến gò Bằng Lăng rồi gò Cá Trê lên đồi 300 thì có lệnh dừng lại, nghỉ quân mấy bữa. Cả đoàn thở phào như trút được gánh nặng. Trước mắt cần có sức khỏe để vượt chặng cuối cùng, hành quân vượt suối, vượt dốc về đồi 101. Trong lúc đó, các thủ trưởng R đã chọn sẵn địa điểm đóng quân tại đồi A1, khi về chỉ việc cưa cây, hái mật cật, bẻ lá trung quân để cất nhà là xong.

Trong thời gian chuẩn bị cuộc di dời gian khổ này, chú Năm Trần Bạch Đằng quyết định chọn từ Tiểu ban Văn nghệ thành lập Đoàn Văn công Giải phóng gồm mười hai thành viên do chú Hai Lý Văn Sâm là Chính trị viên, ông Phan Thế là Trưởng đoàn, ông Tư Minh là Phó đoàn phụ trách hậu cần, ông Nguyễn Diệp là Phó đoàn phụ trách chuyên môn... Tháng 6 năm 1961, Đoàn Văn công Giải phóng về tới căn cứ mới trên đồi A1 bên kia sông Mã Đà, Chiến khu Đ. Đang sửa soạn nhà cửa, tắm giặt cho sạch bụi đường trường thì có lệnh chú Năm cho nghỉ hẳn ba ngày, không họp hành, tập dượt gì hết. Cả mười hai anh chị em được thể, chỉ còn thiếu nước reo hò mừng vui như con trẻ. Ba ngày trời, là bảy mươi hai giờ, so với thời gian đoàn giành giật từng giây phút giữa sống chết, thật đáng quý như cả cuộc đời. Mọi người nghỉ ngơi, an dưỡng, chuẩn bị tiết mục cho đợt phục vụ mới.

Ai đã từng ở rừng mới rõ mùa mưa ở rừng buồn thế nào. Tháng 8 ở Chiến khu Đ, mưa rừng không ngớt. Nằm trên võng, tâm hồn nghệ sĩ man mác buồn ngắm ba tầng mưa rơi. Ngang trời mưa dông, gió giật. Trên đầu, mưa ướt lá đầm đìa. Dưới đất, mưa thấm ướt vai chiến sĩ. Ba tầng mưa cùng tạo nên nỗi niềm buồn vui cho tuổi trẻ, nhất là những người mới xa nhà.

Thấy đoàn về tới căn cứ an toàn, chú Năm Trần Bạch Đằng mừng lắm, kêu “bố” Hải cấp dưỡng người Bắc: “Đổ cho mỗi người một cái bánh cam thiệt bự nghe bố già!”. Chú mời cả đoàn lên cơ quan, xếp hàng ngang trên hội trường rồi đi bắt tay thăm hỏi từng người một.

- Chú tên gì? Quê ở đâu? Bộ môn gì?

Ai cũng phấn khởi, vui vẻ vì được cấp trên quan tâm. Tới lượt Đỗ Thanh Hiền, chú Năm dừng lại hơi lâu một chút.

- Em tên gì?

- Dạ tên Bắc!

- Sao Bắc? Bộ từ ngoải vô hả?

Đỗ Thanh Hiền giải thích: Hồi mới lên Bời Lời, ở Tây Ninh có bốn anh em mới, anh Bảy Dũng chính trị viên đặt biệt danh là Đông, Tây, Nam, Bắc. Chú Năm “à” lên một tiếng, vỗ vai “Bắc”:

- Vậy em là lính Tư Văn, Bảy Dũng gởi cho tôi đây hả?

- Dạ!

Chú trìu mến nhìn anh chị em một lượt, những khuôn mặt trẻ còn chưa phai nỗi gian khổ dọc đường, rồi căn dặn: “Chiến trường khu Đ gian khổ ác liệt lắm. Kháng chiến còn dài lâu. Ráng lên nghen!”.

- Mình dân văn nghệ, phải văn nghệ chút hả? Hát nghen!

Chú Năm vỗ tay mở đầu chương trình: Kết đoàn chúng ta là sức mạnh. Kết đoàn chúng ta là thép gang... Tới lượt mọi người vui văn nghệ, chú Năm cũng xung phong. Bài hát “ruột” của chú từ thời gian chín năm kháng chiến: Qua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xa. Suối sâu đèo cao bao khó khăn vượt qua. Bộ đội ta vâng lệnh Cha già. Về đây giải phóng quê nhà... Chú ngắc ngứ rồi bật cười ha hả: “Mình hết thuộc rồi! Thông cảm nghen!”.

Mọi người còn nhớ hình ảnh một chú Năm người nhỏ nhắn, xắn quần lội theo bộ đội đi gài bẫy bắt chim, thú, cắm câu bắt cá và chưa bao giờ về không, khi thì được năm ba con cá hay con cò ngãng, hên thì bẫy được cheo, chồn, kỳ đà... Bữa đó bắt được con cò ngãng và con kỳ đà, chú Năm ra tay vừa nướng vừa kho rồi mời hết mấy anh em trong Ban biên tập gồm chú Tám Râu (nhà báo Tân Đức), chú Tư Điện (Anh văn), chú Năm Thưởng (Pháp văn), hai anh Lý Thắng và Ngô Quân (Trung văn) tới ăn cơm. Chú biểu Đỗ Thanh Hiền:

- Em xuống kêu cả ba bà già tới đây.

Ba “bà già” này là các cô Nguyễn Thị Chơn, Mã Thị Chu và Đỗ Duy Liên. Từ lần đó, chú Năm có ý kiến anh em nam giới nên chia bớt thức ăn với mâm cơm phụ nữ, gồm ba “bà già” cùng chị Tư Vân, cô Út Xuân Việt và cô Xuân Phượng ở Đoàn văn công mới rút lên. Ý kiến này được mọi người ủng hộ.

Cơ quan lúc đó có hơn hai chục người, “chưa đầy hai tấm nệm” như chú Năm nói vui. Mỗi người một việc, tất bật tối ngày. Chú Năm bận rộn với công việc của một lãnh đạo, ngoài việc đọc, duyệt tin, bài, chú rất quan tâm đến đời sống, sinh hoạt trong cơ quan. Lúc rảnh rỗi, chú thường theo anh em bảo vệ đi kiểm tra nhà ở, che chắn những chỗ hư hỏng, tỉa cành này, chặt cành kia.

leftcenterrightdel
NSƯT Đỗ Thanh Hiền (người ngồi) và tác giả bài viết. Ảnh: PHÚ THỌ

Cuối năm 1963, chuẩn bị đón Tết Nguyên đán, cánh văn nghệ sĩ trẻ xuống bến tải gạo. Nhận xong gạo, anh em phấn khởi vì được cấp thêm một số nhu yếu phẩm như trà, bánh, mứt tiêu chuẩn ngày Tết. Mấy ngày xuân có thứ mà nhâm nhi với nhau rồi, không vui sao được! Lúc quay về được nửa đường, đang chuyện trò nổ như bắp rang thì máy bay địch tới. “Coi chừng nó ném bom nghen!”. Mới nhắc nhở lẫn nhau thì bom đã nện uỳnh uỳnh sau lưng. Ráng chạy thêm được mấy trăm mét nữa thì bom quất sát đội hình, đành phải phân tán xuống hầm trú ẩn, ai không kịp xuống hầm thì núp sau những gốc cây to. Chú Năm ngồi ở nhà, thấy bom nổ gần thì lo quá, liền xách xe đạp chạy đi kiếm. Mới đụng đoàn tải gạo thì đúng lúc bom nổ mù mịt trời đất, chú quẳng xe đạp, nhảy xuống một công sự gần đó. Ngồi dưới hầm mà ổng cứ ngó đầu lên tìm kiếm anh em. Thấy mấy người chưa kịp xuống hầm, chú hét lớn:

- Kiếm gốc cây mà trú con ơi! Núp sau gốc cây cũng được con ơi!

Trong khói bom mù mịt, khét đắng, tiếng chú Năm vang lên giữa rừng, làm anh em trẻ hết sức cảm động. Đỗ Thanh Hiền ngồi sau một gốc cây dầu lớn, liền ló ra kêu:

- Anh em núp rồi chú Năm ơi! Chú Năm xuống hồi nào vậy?

Chú Năm khoái chí, vẫy tay cười:

- Thằng Bắc hả? Anh em không sao hết hả?

Bữa cơ quan tổ chức liên hoan vui Tết cũng xôm. Có thịt trâu, chút rượu, bánh tét, bánh mứt đủ cả. Mấy “ông già” được ưu tiên thêm gói trà và mấy chai bia Trúc Bạch gởi từ Hà Nội vô. So với lớp trẻ, chú Năm và mấy chú trong cơ quan được xếp loại “ông già”, chứ thực ra mấy chú hồi đó cũng mới ngoài bốn mươi tuổi, kể như bây giờ thì đang xuân. Sau buổi liên hoan là tới phần văn nghệ như thường lệ, bữa nay bỗng chú Năm đứng dậy, kêu:

- Thằng Bắc Thanh Hiền đâu?

Bắc buông chén trà, chạy tới.

- Dạ, con đây chú Năm!

 Chú Năm khoác vai, vừa cười vừa hỏi mọi người:

- Các bạn ơi! Các bạn có biết trong cơ quan này, người đẹp lão và đẹp trai nhất là ai không?

Anh em còn đang ngơ ngác nhìn người này, người kia thì chú Năm chỉ vô ngực mình tuyên bố:

- Năm Tròn ta đây là người đẹp lão nhứt, vì có cái miệng méo xẹo.

Rồi chú chỉ qua Bắc.

- Bắc Thanh Hiền đẹp trai nhứt vì có con mắt lé xẹ.

Cả cơ quan vỗ tay rần rần, cười nghiêng ngả. Người méo, người lé. Hay thiệt. Chú Năm quay qua Bắc.

- Đừng tự ái nghen! Bây giờ hát bài gì?

- Thì sinh hoạt bữa nào chú Năm không “Kết đoàn”?

- Ờ, vậy “Kết đoàn” hén. Kết đoàn chúng ta là sức mạnh. Kết đoàn chúng ta là sắt gang... Hai, ba!

Sau này, khi bác Tư Trần Hữu Trang về cơ quan, một buổi vui văn nghệ xong, chú Năm nói vui:

- Giờ rước được anh Tư Trang về rồi, tôi từ chức Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Cục, đi làm việc khác. Đề nghị anh làm Trưởng ban luôn, để tôi làm báo cáo gởi ra Trung ương.

Bác Tư Trang có vẻ ngại ngùng, thì chú Năm cười ha hả:

- Nói vậy chớ cấp trên bố trí rồi. Anh ráng thay tôi nghen.

Bữa liên hoan tiễn chú Năm Bạch Đằng về “I bốn” làm Bí thư Sài Gòn-Gia Định, chú Năm lại cầm trịch buổi văn nghệ:

- Cuộc chia ly nào cũng buồn, nhất là trong tình đồng chí, đồng đội. Nhưng mà mình là dân văn nghệ thì phải vui. Tôi đọc tặng anh em một bài thơ mới sáng tác nghen!

Nói là mới sáng tác, nhưng bài này chú viết cũng lâu. Đó là bài thơ “Trong Tổng tiến công đọc Lục Vân Tiên”, ông đọc rất diễn cảm, xúc động...

Bút ký của PHÙNG PHƯƠNG QUÝ