Thì ra, ông Hoàn trước đây là Bí thư Huyện ủy Tam Đường và những nương chè Bản Hon là kết quả mà ông cùng tập thể lãnh đạo huyện dày công nghiên cứu và gây dựng. Người Bản Hon từ khi có thêm cây chè thì đời sống và tập tục lao động đã đổi thay nhiều, khấm khá hẳn lên. Kể cũng vui mắt. Ngắm hai bên đường thứ cây có giá trị kinh tế cao lại đẹp một cách “trật tự” kể cũng thinh thích. Từng vạt đồi xưa cỏ rồi sim rồi mua mọc đầy hoang dại, nay là những hàng hàng lớp lớp thì hỏi có gì hay bằng. Chẳng đợi ai bảo, cậu Minh-lái xe cho đoàn-đã dừng xe nép sát bên đường. Vốn là một tay đam mê chụp ảnh nên Minh đã chọn được chỗ dừng khá tiện lợi, với những tay máy nghiệp dư như tôi chẳng hạn, chẳng cần đi đâu xa hay trèo đâu cao, cứ đứng ngay bên chiếc ô tô hiệu Innova là đủ cho những góc máy, cho những khuôn hình đẹp và hội đủ. Tôi nói vui: “Ai bảo vùng này xa xôi hoang vu và cằn cỗi nhỉ?”.

leftcenterrightdel
Trang phục truyền thống của phụ nữ dân tộc Lự ở Bản Hon. Ảnh: TTXVN 
Nếu bạn gõ từ khóa “xã Bản Hon” trên Google thì chỉ chừng 30 giây đã có hơn 540.000 kết quả. Con số đó nói lên địa phương này không xa lạ với “cộng đồng mạng” hay nói một cách khác thì xã Bản Hon đã được biết đến với tư cách là một “điểm du lịch” của tỉnh Lai Châu trong tuyến du lịch “vòng cung Tây Bắc”.

Từ thành phố Lai Châu về xã Bản Hon chỉ độ 15km. Bắt đầu từ ngã ba San Thàng xe tách khỏi con đường 4D để rẽ vào con đường dẫn về xã. Một con đường chạy xuyên qua những vạt đồi, xuyên qua những thung núi và những ruộng lúa đã được trải nhựa phẳng lỳ. Nó cho phép mọi người được đến với Bản Hon một cách thuận lợi. Phong cảnh hai bên đường nhìn cũng thấy khá “mê mẩn”, tôi hết nhắc mọi người là lúc xe quay ra nhớ ghi hình những thửa ruộng lúa chín lại bảo cô bạn đồng hành nhớ ghi chép cẩn thận. Một vùng xa trông xanh thẫm màu cây lá.  

Khu trung tâm xã Bản Hon được “quy hoạch” khá tập trung và đặt ở Bản Hon, bản làm nên cái tên của xã. Do số dân đã tăng lên và do thực tế phân bố cư dân nên Bản Hon xưa giờ được lập thành Bản Hon 1 và Bản Hon 2. Theo quy hoạch, trung tâm xã ngoài trụ sở Đảng ủy, Ủy ban nhân dân ra thì trường trung học cơ sở, trường tiểu học và trường mầm non được xây dựng khang trang và hoàn chỉnh với hơn 700 cháu theo học ở 36 lớp các cấp. Lúc chúng tôi vừa tới đã thấy sân trường rộn ràng tiếng trống. Các cháu đang tập thể dục giữa giờ rất nhịp nhàng. Dĩ nhiên là cậu Duy quay phim đã không bỏ lỡ cơ hội sẵn có đó.

Dẫn chúng tôi vào thăm Bản Hon 1, ông Tao Văn Si, người mà lúc mới gặp chắc không ai bảo người đàn ông da dẻ đỏ hồng, chừng năm mươi tuổi, áo sơ mi trắng bỏ gọn trong quần, đi giày da đen mới đánh sáng bóng là người dân tộc thiểu số. Phải cho tới lúc anh Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bản Hon giới thiệu thì mọi người mới ớ ra. Anh Thuận nói: “Giới thiệu với các anh các chị, đây là ông Tao Văn Si, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã; người dân tộc Lự và là người chính gốc ở xã này. Chuyện về Bản Hon có gì các anh, các chị cứ “khai thác” qua ông Si là xong hết”. Tôi vội nói góp: “Ái chà, họ Tao là hiếm và độc lắm đây!”. Ông Tao Văn Si cười hồn nhiên: “Cái họ do ông bà đặt thôi mà”. Rồi ông Si còn cho biết thêm: “Nhà mình ở bản này. Cũng ngay đây thôi. Chốc nữa mời mọi người về nhà mình chơi”.

Những con đường đổ bê tông chạy trong bản tầm này khá tĩnh lặng và sạch sẽ như vừa mới quét. Người dân hầu như đều đã đi làm. Điều làm chúng tôi vô cùng thích mắt là dưới gầm sàn, cũng rất sạch và thoáng đãng, là một màu vàng, đỏ của màu ngô chín như kín hết gầm nhà sàn. Người dân xã Bản Hon có thói quen treo ngô ở đó, nhà nào cũng vậy. Tiện cho bảo quản và cũng tiện cho sử dụng. Tôi hỏi ông Tao Văn Si: “Không lo bị mất trộm à?”. Ông Si lắc đầu hồn nhiên: “Không ai lấy đâu. Chỉ có chuột nó leo lên cắn thôi”.

Nhớ lúc ở ủy ban xã, qua nghe giới thiệu của anh Nguyễn Văn Thuận, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, toàn xã Bản Hon có 9 bản thì chỉ có một bản là người Mông, còn lại đều là bản người Lự. Bởi thế mới có chuyện xã Bản Hon được gọi là “xã của người Lự”. Hiện tại, người Lự ở xã Bản Hon vẫn duy trì 100% số hộ gia đình còn giữ nếp sinh hoạt nhà sàn truyền thống. Những ngôi nhà sàn ở đây được xây dựng khang trang, phần để gia đình ở và phần để làm du lịch trải nghiệm. Lấp ló trong Bản Hon 1, chúng tôi lại thấy ánh lên màu đỏ của mái những ngôi nhà mới dựng nhằm mục đích thứ hai đó.  

Về thăm Bản Hon lần này không đúng dịp nên chúng tôi không được dự lễ “Cấm bản” hay gọi là lễ “Căm Mường”, kể cũng tiếc. Đây được coi là một tục đáng nhớ của người Lự. Bên kia dòng Nậm Hon chảy ngang rìa bản có một khu rừng nhỏ, ở đó có một cây sanh cổ thụ xum xuê cành lá. Theo phong tục lâu đời, người Bản Hon mỗi năm có hai lần làm lễ "Cấm bản". Lễ thứ nhất được chọn vào dịp mồng 3 tháng 3 âm lịch và lễ thứ hai được làm vào ngày mồng 6 tháng 6 âm lịch. Điểm chung của hai lễ này là vào dịp đó bản sẽ được “cấm”. Người trong bản không ai đi đâu khỏi bản. Người nơi khác đến dịp đó sẽ không được vào bản. Ai lỡ đã bước chân vào bản rồi thì phải đợi xong lễ mới được ra. Vào ngày làm lễ, các gia đình đồng tiến hành làm cỗ cúng thần linh. Những mâm cỗ đều bắt buộc phải chế biến và nấu nướng ngay trong rừng và cúng xong sẽ được ăn ngay trong rừng. Tất cả mọi người trong bản đều ăn chung ở đó.

Dân tộc Lự là một trong số những dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn của tỉnh Lai Châu. Người Lự còn có cách gọi là người Duồn hay người Nhuồn, cũng còn gọi là người Lữ. Bà con lập nghiệp chủ yếu ở huyện Phong Thổ và huyện Sìn Hồ. Khi huyện Phong Thổ được tách ra để thành lập huyện Phong Thổ mới, huyện Tam Đường và thành phố Lai Châu thì người Lự là cư dân của cả ba địa phương đó. Nói cách khác, người Lự sinh sống ở đây đã lâu đời. Đặc biệt là người Lự có truyền thống làm ruộng nước, hiện xã Bản Hon có 205ha trồng lúa. Bên cạnh còn có các loại cây khác như: Lạc, chè, thảo quả và cây ăn quả độ hơn 250ha. Ngoài ra còn hơn 300ha trồng ngô. Thảo nào ngô ở Bản Hon nhìn đâu cũng thấy. Phải công nhận rằng người dân xã Bản Hon có thu nhập kha khá. Đời sống kinh tế và văn hóa xã hội cũng nhờ đó mà tăng lên.

Bà con người Lự có tập quán ăn cơm nếp và dệt cửi. Tài nghệ dệt may của người Lự khá cao. Mỗi gia đình thường có vài ba khung cửi. Ông Tao Văn Si cho hay: “Phụ nữ Lự rất coi trọng khâu trang phục khi ngồi dệt cửi. Chị em một khi chưa mặc đủ trang phục của người Lự thì chưa ngồi vào khung cửi. Nhất là chiếc khăn trùm đầu. Họ sẽ thiếu tự tin nếu chưa trùm khăn”. Tôi cười động viên cậu Duy quay phim: “Đợi lâu một chút nhưng mình sẽ có những hình ảnh đúng chất nhất”.

Quả tình việc quấn khăn trùm đầu của các cô, các chị người Lự cũng là một nghệ thuật. Khăn của các cô gái Lự có màu đen và quấn lệch về bên trái. Nhìn nghiêng nghiêng thấy rất duyên dáng. Nghe nói có nhiều nữ du khách khi tới đây thấy hay cũng muốn học quấn khăn, vậy mà cuối cùng phải chịu không quấn được cho đúng kiểu, đúng dáng.

Dẫn chúng tôi tới chào cụ Vàng Thị Ín, 86 tuổi, cụ là người cao tuổi vào hàng bậc nhất ở đây. Hiện cụ Ín sống cùng với vợ chồng người cháu. Đối diện với ngôi nhà cụ Ín đang ở là ngôi nhà người con trai thứ của cụ. Một ngôi nhà sàn mới, thoáng đãng và khá rộng. Hỏi ra chúng tôi được biết cụ Ín ở với cháu bởi ngôi nhà của người con trai hiện gia đình sử dụng làm du lịch.

Thấy chúng tôi ngỏ ý muốn được xem cụ Ín quấn khăn, ông Tao Văn Si bèn đề nghị cụ làm lại động tác quấn khăn để chúng tôi ghi hình và chụp ảnh. Nhìn cụ bà tuổi ngoại bát tuần với đôi tay thuần thục cùng dáng ngồi rất thư thái này mà chúng tôi thấy nhiều cảm mến. Nhất là cụ Ín cười khi chúng tôi “khen” cụ đẹp lão và quấn khăn giỏi. Đó có lẽ là một nụ cười đẹp nhất mà chúng tôi được biết. Khuôn mặt cụ Ín rạng ngời và hoạt bát. Hàm răng của cụ còn đều và đen bóng. Biết chúng tôi là lạ với hàm răng đen đó nên ông Tao Văn Si nói luôn: “Người Lự có tục nhuộm răng đen mà”.

Đây là một tục khá hay. Nó khác với tục nhuộm răng đen để ăn trầu của người Kinh xưa. Đàn bà, con gái Lự nhuộm răng đen chính là để... bảo vệ răng. Cụ Ín cho biết: Răng được nhuộm hằng ngày và vào buổi tối trước khi đi ngủ. Chọn buổi tối bởi khi đó đã xong việc ăn uống, nhuộm để một đêm sẽ bền màu đen hơn. Đơn giản như cách chúng ta vẫn đánh răng bằng kem đánh răng vào buổi tối vậy. Thì ra từ xa xưa, người Lự đã biết dùng cây lá trong rừng để bảo vệ răng. Nghĩa là họ đã biết sử dụng “thuốc” đánh răng có từ tự nhiên. Cụ Ín cho hay: Cây được dùng gọi là cây thổ lộ, tiếng Lự gọi là mày chung cài, cây này được cắt lấy phần cành và đem về đốt thành tro. Tro của cây thổ lộ có màu đen và giữ màu khá bền. Đặc biệt nó có tác dụng chống sâu răng, làm chắc răng. Khi nhuộm răng chỉ cần dùng ngón tay chấm vào thứ nước đen đó rồi bôi vào hàm răng. Mới bôi sẽ có cảm giác hơi xót và cay.

Nắng hanh hao nên bản nhìn càng thấy vắng. Dường như người Lự Bản Hon khá năng động trong lao động sản xuất. Họ không mải chơi như lâu nay chúng tôi thường nghĩ. Hơn 800ha đất cho canh tác đối với 547 hộ và 2.637 nhân khẩu quả là tất bật. Ấy vậy mà người Bản Hon còn hằng ngày chung tay bảo vệ gần 300ha rừng. Trong đó khó khăn và nặng nhọc nhất là làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Anh Thuận-Chủ tịch UBND xã cho biết: “Xã đã nhiều năm không để xảy ra cháy rừng”. 

Tạm biệt Bản Hon, tạm biệt những cô gái Lự thoăn thoắt tay ngồi dệt cửi, tạm biệt những nụ cười đen bóng rất thân thiện, chúng tôi ra về và tin rằng sẽ có nhiều người tìm đến đây; sẽ có nhiều người nói về xã Bản Hon-điểm du lịch văn hóa mới nổi của vùng Tây Bắc rực rỡ xòe hoa. Với cách làm du lịch theo hướng tại chỗ, cộng đồng và trải nghiệm, chúng tôi tin rằng người Lự nơi đây sẽ đem đến cho mọi người những cảm nhận sâu sắc về nét văn hóa dân tộc Lự độc đáo, bản sắc và đầy chất nhân văn.

Ghi chép của NGUYỄN TRỌNG VĂN