QĐCT - Thứ Hai, 18/01/2017, 10:15 (GMT+7)
print  

Những tượng đài âm thanh

QĐND - Chiến dịch Thu-Đông 1947 có tầm quan trọng sau một năm kháng chiến chống xâm lược Pháp. Việc chặt đứt gọng kìm của các đơn vị tinh nhuệ Pháp định “làm cỏ” Chiến khu Việt Bắc đã mang đến thất bại thảm hại mà đối phương không thể ngờ tới. Dòng sông Lô đã chứng kiến chiến công oanh liệt ấy của quân và dân ta.

Thời gian đã trôi qua 70 năm. Bên bờ sông Lô đã có cụm Tượng đài Chiến thắng Sông Lô để ghi tạc sự kiện lịch sử ấy. Nhưng ngay từ khi lập nên Chiến thắng Sông Lô, đã có nhiều tượng đài bằng âm thanh ghi tạc nó. Đó là những tác phẩm âm nhạc tầm vóc còn lưu truyền mãi trong tâm hồn dân tộc Việt Nam.

Nhạc sĩ Lương Ngọc Trác-"nhạc sĩ của Trung đoàn Thủ Đô"-với hai hành khúc viết về mặt trận Hà Nội là “Mơ đời chiến sĩ” và “Thủ đô huyết thệ”, đã cùng trung đoàn tham gia Chiến dịch Thu-Đông 1947 và sau Chiến thắng Sông Lô, ông đã viết ngay một bản hợp xướng “Lô giang”: Lô giang dòng nước trong xanh có mái nhà xinh bên đồi núi cao/ Lô giang dòng nước êm ru ánh vàng thắm tươi khi trời cười vui…

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc cũng là người chứng kiến trận chiến đấu. Khi quân ta chiến thắng, ông đã viết khúc khải hoàn ca thật hồ hởi và nồng nhiệt mang tên “Chiến sĩ sông Lô”: Hoan hô! Hoan hô! Đoàn chiến sĩ sông Lô!/ Sông Lô! Ai hay rằng đó là mồ chôn lũ thực dân.

Không ai ngờ tác giả của "Cô lái đò", "Lời du tử"… lãng mạn thời tiền chiến đã lột xác trên những giai điệu. Ông còn viết "Bình Ca" để ca ngợi một chiến sĩ da đen tình nguyện đứng trong hàng ngũ ta, đã chiến đấu rất dũng cảm trận sông Lô và bị thương. Tên anh là Tô Thắng, còn quê cha anh ở đảo Mác-ti-ních xa xôi. Bài hát đã được in trên Báo Sự Thật số 111 ra ngày 1-5-1949: Bình Ca nơi đây sóng vỗ quanh nhà/ Gió đàn lau hát suối ca quanh rừng/ Bình Ca nơi đây kháng chiến tưng bừng ...

leftcenterrightdel
Minh họa: Lê Anh 
Cũng lúc ấy, đội văn nghệ của Phạm Duy, Văn Chung, Ngọc Bích... về Tam Đảo công tác sau Chiến thắng Sông Lô. Khi đi qua sông Lô, Phạm Duy đã ấp ủ viết "Tiếng hát trên sông Lô". Ông gặp Hoàng Cầm, nghe Hoàng Cầm đọc bài thơ "Tiếng hát sông Lô" của mình và cả hai đều ngâm bài này theo điệu hò khoan: Sông Lô chảy xuống sông Hồng/ Sông Hồng trôi đến Biển Đông xa vời/ Biển Đông cuộn sóng ngang trời/ Nhắc đi bốn bể những lời sông Lô/ Chị Hồng ơi!/ Em là em bé sông Lô/ Em đi theo chị bến bờ là đâu/ Chiều nay thương mẹ em sầu/ Cho em kể lể vài câu tâm tình… Ngâm xong, Phạm Duy ngồi dưới chân Tam Đảo, đêm ấy viết xong và hát ngay "Tiếng hát trên sông Lô". Một giai điệu ngập tràn âm hưởng dân ca, nhiều đoạn vào nhịp mạnh mẽ:

Khoan hỡi hò khoan

Hôm nào chiến sĩ Việt Nam

Trên dòng sông mênh mang

Súng thần công vang vang

Sông mờ hoen máu thực dân

Hai nghìn quân Pháp vùi thân

Oai hùng thay Lô giang...

Nhạc sĩ Văn Cao lúc ấy từ phòng tuyến Lào Cai trở về. Khi đi qua sông Lô thì cuộc chiến đấu vừa kết thúc. Bên bờ sông Lô vẫn còn leo lét những đám cháy. Trên sông Lô vẫn còn trôi xác giặc, nhưng thuyền đánh cá đã ngược xuôi. Văn Cao gặp Doãn Tuế-người chỉ huy pháo binh đã từng bắn phát đại bác đầu tiên từ pháo đài Láng đêm 19-12-1946 mở đầu Toàn quốc kháng chiến. Văn Cao rất muốn viết ngợi ca binh chủng pháo binh non trẻ đã lập công, nhưng trước vẻ đẹp kỳ vĩ của sông Lô, ông lại nghĩ tới sông Đa-nuýp ở châu Âu và bản valse tuyệt vời "Sông Đa-nuýp xanh" của Johann Strauss. Ông nghĩ sẽ viết ngợi ca sông Lô của Việt Nam bằng một tầm vóc thể loại âm nhạc không kém gì bản trường ca về sông Đa-nuýp. Và "Trường ca sông Lô" đã ra đời sau trường ca "Thiên Thai" và "Trương Chi" của chính ông, sau "Người Hà Nội" được Nguyễn Đình Thi viết vào mùa xuân 1947. Vì là họa sĩ nên Văn Cao viết đoạn mở đầu "Trường ca sông Lô" như vẽ con sông này bằng âm thanh: Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u/ Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu/ Sông Lô sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang/ Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa…

Từ mở đầu ở điệu thức rê trưởng, Văn Cao chuyển động và chuyển nhịp trong điệu thức son trưởng:

Thây giặc trôi trở về ngập bờ

Sông Gâm âm vang súng trái phá

Bao rừng thu như bát ngát cười.

Dân hoan hô chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công

Rồi âm nhạc chậm lại, ngẫm nghĩ một chút: Tiếng trái phá quân thù gục chìm dòng Lô/ Đây dòng Lô. Đây dòng Lô!... Một chuyển điệu tuyệt vời mà chỉ có Văn Cao làm được. Đó là chuyển điệu từ điệu thức son trưởng sang si trưởng ở nhịp hành khúc: Đoàn quân thời chinh chiến ca rằng/ Đây Von-ga, đây Dương Tử, đây sông Lô, đây sóng căm hờn vút cao… Hết đoạn hành khúc, con sông Lô bằng âm thanh của Văn Cao lại trôi chậm lững lờ trong cảm nhận và cũng chuyển sang điệu thức si thứ:

Về trong đêm gió rét,

Từng sân vui bóng người quanh lửa hồng.

Nền khô tro than xám

Đêm chìm đợi ánh triều dương

Tài năng Văn Cao đã được thể hiện tận cùng bởi tầm vóc của chiến thắng này. Ông thu nhận được tiếng gõ lách cách rủ cá mà người dân chài gõ vào mạn thuyền và đã đưa ra một nhịp chèo thuyền mới, rất mới kiểu Việt Nam: Vui hát ca hòa vui hát ca hòa dân buông lưới/ Phan Lương vui bóng thuyền/ Lều dựng lên ven sông/ Bóng người sầm uất bến Then...

Văn Cao kết "Trường ca sông Lô" bằng việc trở lại nhịp đầu và sử dụng âm hình chủ đạo của “Làng tôi” rất nhuần nhị và sang trọng. Đấy là tượng đài âm thanh ấn tượng nhất về Chiến thắng Sông Lô.

Chiến thắng Sông Lô Thu-Đông 1947 còn gây ám ảnh trong sáng tác của nhiều nhạc sĩ sau đó. Phạm Ngữ trong “Chiến thắng Việt Bắc” đã nhắc đến sông Lô trong một giai điệu đầy tha thiết: Trên sóng sông Lô giang bao chiến công từng ghi bao khúc ca còn vang… Lưu Hữu Phước quen thuộc trong nhịp hành khúc cũng viết “Đoàn quân sông Lô”: Nơi cổng Việt Bắc bên sông Lô chiếu sáng ngời/ Dưới bóng lá gồi hoặc trên dốc núi cao…/ Khi dòng Lô uất hận tuôn trào/ Ta đoàn quân sông Lô/ Ta thề quyết lấy máu rửa thù chung ...

Và nhiều chục năm sau, vào một chiều cuối năm qua sông Lô, Minh Quang đã tâm tình đầy cảm động trong ca khúc “Sông Lô chiều cuối năm”: Sông Lô chiều cuối năm/ Bất chợt gặp câu hát từ bến sông xưa vọng lại/ Ai về qua bến Bình Ca/ Bâng khuâng chợt nhớ/ Bao kỷ niệm năm tháng gần bên nhau say trong hương rừng/ Ai về tắm nước dòng Lô…

Bài hát nói về một mối tình mà người lính đã ra đi mãi không về. Để có được chiến thắng, đã bao người ngã xuống, đã bao người ra đi. Bây giờ, đường đến sông Lô không còn gian khó và xa xôi như 70 năm trước. Đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai sẽ đưa ta đi rất nhanh rồi đến lối rẽ về Phù Ninh, từ đó đi men sông Lô về Tuyên Quang. Nhiều lần đi men sông Lô, tôi đã không khỏi lặng nghĩ về những năm tháng xa xưa ấy và thường bất chợt hát lên những giai điệu đã trở thành máu thịt của bao thế hệ. Nhớ nhiều nhất vẫn là "Trường ca sông Lô" của Văn Cao.

70 Xuân đã qua. Rồi nhiều Xuân nữa sẽ qua. Các thế hệ sẽ lần lượt ra đi. Chỉ còn sông Lô và những tượng đài âm thanh về nó là còn mãi, là bước vào cổ điển, là trở thành bất tử!

Nhà thơ, nhạc sĩ NGUYỄN THỤY KHA

 

  Ý kiến của bạn
 

Tin tức liên quan
go top