Nhớ lại một buổi chiều đầu thu năm 2011, tôi được Đại tá, nhà văn Ngô Vĩnh Bình-Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội-gọi vào phòng nói chuyện. Khi vào, tôi đã thấy nhà văn Nguyễn Chí Trung ngồi đó, khuôn mặt rất vui vẻ. Lúc đó, tôi về Tạp chí Văn nghệ Quân đội chưa lâu, đã nói chuyện với bác Nguyễn Chí Trung vài lần và cũng được nghe nhiều “giai thoại” về nhà văn mang quân hàm cấp tướng, từng một thời làm Phó tổng biên tập tạp chí. Dạo đó, tôi đang ở dãy tập thể của Văn nghệ Quân đội, cách phòng nhà văn Nguyễn Chí Trung ba phòng và một cầu thang. Vì có một khoảng cách như vậy, tuy không xa, nhưng do bác Trung chân yếu nên sự tiếp xúc cũng không “sát sạt” như vài anh em khác trong cơ quan.

Câu chuyện trong phòng Tổng biên tập Ngô Vĩnh Bình bữa đó, sau vài lời chúc tụng như thói quen, bác Ngô Vĩnh Bình cho tôi biết nhà văn Nguyễn Chí Trung vừa được Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2011. Lễ trao giải thưởng sẽ được tổ chức ở thủ đô Băng-cốc của Thái Lan vào tháng 10. Bác Trung cùng bác Bình đã trao đổi và hai người đã thống nhất chọn tôi làm “hộ vệ tháp tùng” kiêm phiên dịch viên trong thời gian nhà văn Nguyễn Chí Trung tham gia các hoạt động của lễ trao giải ở Thái Lan.

Khuôn mặt bác Trung khi đó rất rạng rỡ. Bác bảo tôi hãy đi cùng để hỗ trợ vì tuy bác chưa yếu lắm nhưng di chuyển hơi khó khăn, nhất là tôi lại biết tiếng Anh nên có thể giúp bác giao dịch. Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là tình cảm nên tôi bày tỏ sự hân hạnh được phục vụ nhà văn Thiếu tướng.

leftcenterrightdel
Nhà văn Nguyễn Chí Trung (người mặc com-plê, đứng thứ hai từ phải sang, hàng trước) chụp ảnh cùng các đồng nghiệp quốc tế sau lễ nhận giải. 

Mọi việc đã chuẩn bị xong xuôi nhưng khi chúng tôi sắp lên đường thì xảy ra một sự kiện bất thường. Năm đó, Thái Lan bị lũ lụt nghiêm trọng, thủ đô Băng-cốc chìm trong nước lũ nên việc trao giải văn học ASEAN bị lùi tận sang năm 2012 và rút ngắn đi mấy ngày.

Một trong những công việc quan trọng nhất của tôi khi đó là dịch bài diễn từ của nhà văn sang tiếng Anh để chuyển cho Ban tổ chức. Bác Trung là người rất kỹ tính, mỗi khi bài dịch của tôi gần như hoàn thành thì bác lại thay đổi một câu hoặc vài từ khiến cho việc làm cho bản dịch chu tất cũng mất khá nhiều thời gian. Cũng về bài diễn từ này, bác đọc cho tôi nghe vài lần để bấm thời gian và thử giọng, và đúng là một vị tướng đầy máu lửa, đã ngoài 80 tuổi nhưng giọng bác vẫn sang sảng, mạnh mẽ.

Một việc cũng rất quan trọng và tế nhị nữa là khi nhận giải do Công chúa Thái Lan trao, theo nghi lễ hoàng gia thì những người nhận giải sẽ phải quỳ xuống. Sở dĩ tôi nói điều này “tế nhị” vì trước hết, bác Trung không muốn quỳ và thứ nữa là sức khỏe của bác Trung cũng yếu, nếu phải quỳ sẽ khó khăn. Tôi nhận nhiệm vụ trao đổi lại với Ban tổ chức xin miễn cho nghi lễ này và cuối cùng họ cũng chấp thuận, nhà văn Nguyễn Chí Trung sẽ ngồi trên một cái ghế thấp.

Khách sạn ở thủ đô Băng-cốc, nơi chúng tôi ở nằm ngay bờ sông và là nơi đã diễn ra nhiều cuộc trao giải văn học trước đó. Mặc dù việc di chuyển rất khó khăn, bác Trung không bỏ lỡ bất cứ cuộc tham quan hay giao lưu nào, cuộc nào bác cũng tham dự với tinh thần phấn chấn và cởi mở. Tôi thấy bác đặc biệt thích thú trò chuyện với những người trẻ: Những cô dọn phòng, anh bảo vệ, các cháu thiếu nhi cùng tham dự sự kiện và những nhà văn của 10 nước ASEAN.

Có một buổi nói chuyện giữa các nhà văn đoạt giải với Công chúa Thái Lan làm tôi nhớ mãi. Mỗi nhà văn tham dự có một bài phát biểu ngắn và trả lời các câu hỏi công chúng đặt ra. Bài phát biểu của bác Trung khá dài, bác trích một ý trong Kinh thánh, đại khái nói về việc xây tháp Babel bị trì hoãn và thất bại vì Thượng đế đã bắt mỗi người nói một thứ tiếng nên họ không hiểu nhau. Ngôn ngữ có thể vừa là rào cản, cũng có thể là thứ khiến người ta xích lại gần nhau, nếu có sự cảm thông và chia sẻ, đấy là sứ mệnh của văn học. Ở buổi nói chuyện hôm đó, bác Trung nói rất nhiệt tình và hăng hái hơn các nhà văn khác, có lẽ vì bác không chỉ là một nhà văn, bác còn là một vị tướng và một nhà chính trị.

Trong các buổi trao đổi, họp mặt với giới văn nghệ, trí thức của Thái Lan và nước ngoài, các vị khách châu Âu rất quý bác Trung khi họ biết bác là một vị tướng quân đội. Vài ông khách nói với bác bằng tiếng Pháp và bác nói chuyện với họ khá suôn sẻ, cởi mở. Nhà văn không quá khắt khe và kỹ tính như một vài giai thoại tôi đã từng nghe. Tôi thấy bất ngờ khi một hôm bác bảo tôi: Mình già rồi, chân yếu khó di chuyển. Không mấy khi được ở Băng-cốc thế này, Uông Triều cứ ra ngoài đi chơi, khám phá một chút cho thoải mái. Mình ở lại khách sạn một mình cũng không sao.

Tôi định không đi chơi vì lo nhà văn bất đồng ngôn ngữ, lại sợ bác di chuyển khó khăn nên e có chuyện gì xảy ra nhưng bác cứ giục và bảo nếu có gì cần, bác sẽ gọi mấy cô phục vụ ở đây, tôi không cần phải quá lo lắng. Tôi nghe lời bác và gọi một anh bạn người Úc cũng đang tháp tùng một nhà văn Thái Lan đi dạo một vòng quanh Băng-cốc.

Nói chung, ấn tượng của nhà văn Nguyễn Chí Trung để lại cho các đồng nghiệp văn chương ASEAN và những người phục vụ khách sạn là rất tốt. Họ nói chuyện với bác với sự kính trọng, khâm phục một nhà văn, một vị tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Các cô dọn phòng và các anh bảo vệ rất có ấn tượng với bác vì nhà văn luôn tươi cười và hỏi thăm họ những khi có cơ hội. Bác cũng thường xuyên bảo tôi tìm hiểu xem những người xung quanh nói gì về đất nước Việt Nam. Bác cảm thấy hơi tiếc đã không thể ra ngoài để tìm hiểu cuộc sống của những người dân lao động ở Băng-cốc. Nhà văn luôn có cái tầm của một người luôn quan tâm đến những vấn đề lớn, không hẳn chỉ là vấn đề văn chương.

Tôi được biết sau đó, nhà văn Nguyễn Chí Trung đã dành gần như toàn bộ số tiền từ giải thưởng để đóng góp xây dựng quê hương miền Trung. Một con người hầu như không để lại gì riêng cho cá nhân, một nhân cách và một tấm gương hiếm có, suốt đời phấn đấu và hy sinh cho lý tưởng của mình.

Bài và ảnh: UÔNG TRIỀU