Mẹ tôi kể: Hồi cuối năm 1973, tự dưng thấy dì Minh ôm một lúc hai đứa con gái sinh đôi đỏ hỏn về làng. Cái việc một đứa con gái đã là người Nhà nước hẳn hoi, mà trở về làng với hai đứa con không có bố thì với ông Thông, bố đẻ dì, là một nỗi nhục vô bờ bến. Mặc cho dì Minh khóc lóc van xin trình bày thế nào, ông Thông cũng nhất quyết không cho vào nhà. Dì Minh gọi bà ngoại tôi là chị họ. Mẹ tôi lúc đó mới mười sáu tuổi. Bà ngoại tôi bảo mẹ ra bế hai đứa bé vào nhà ở tạm vài hôm rồi tính. Nhưng cũng chả được yên với ông Thông. Cực chẳng đã, dì Minh bế hai con xuống bến sông, thuê người ta dựng cho túp lều nhỏ, mở quán bán nước cho khách đợi đò ngang.

Ông ngoại tôi hồi còn sống vẫn kể: Ngày xưa, ngoài đê có một khu trại, là nơi ở của những nhà quá nghèo, những nhà gặp hoạn nạn phải bán cả đất đai hương hỏa ông bà trong làng, ra trại cắm miếng đất hoang tá túc. Rồi là nhà của những người ngụ cư, những phận đời trôi dạt chả biết đến từ đâu... Các nhà ấy tụ ngay bên một cái gò, nghe nói là mả của một người con gái trẻ, mùa lũ, chết trôi dạt vào từ xửa xưa, mối đùn lên thành đống, người chợ búa qua lại bến đò đắp lên thêm thành gò. Rồi chả biết tự lúc nào ở đó mọc lên một cây đào. Từ cây đào ấy dần thành cả một vườn đào. Mùa xuân, hoa đào nở sáng cả bến sông. Giống đào ăn quả, cơ mà ngoài lũ trẻ trâu táo tợn ra, thì dân trại chả ai hái đào ở đó. Những quả đào chín nẫu, rụng xuống. Lâu năm thành cả một gò um tùm chen chúc những đào. Dân trong làng tự nhiên gọi chỗ ấy là Trại Hoa Đào.

leftcenterrightdel

Minh họa: ANH KHOA

Cái bến đò bé tí xíu quê tôi trước khi dì Minh ôm hai đứa trẻ sinh đôi, một tên là Thi, một tên là Thư xuống thì chưa có cái quán nào. Thế nhưng bến vắng, nên thu nhập cũng chả đáng là bao. Khách quen của quán dì Minh chủ yếu là mấy tay đàn ông buôn bè từ trên mạn Thái Nguyên, Lạng Sơn. Gái trẻ đang nuôi con mọn, ngực lúc nào cũng núng nính, má lúc nào cũng hồng hồng. Bà ngoại tôi thỉnh thoảng vẫn sai mẹ mang cho dì củ khoai củ sắn mớ rau. Bà bảo: “Ôi giời, gái không chồng một mình một thân nơi rìa sông bến vắng sao tránh khỏi ong trêu bướm ghẹo”.

Một hôm, nghe nói đêm qua có cả một tiểu đội bộ đội hành quân từ trên mạn Mai Sưu để vào Nam chiến đấu qua bến đò, nghỉ trong quán nhà cô Minh thì ông Thông điên lắm. Ông uống hết một chai nửa lít rượu trắng rồi vác dao sang trại đòi chém chết cô Minh. Ông ngoại tôi nghe tiếng, sợ có án mạng thật bèn chạy theo vật ông Thông xuống, tước dao, khóa tay lôi về. Mẹ tôi chạy sang quán dì Minh, thấy dì vẫn ngồi bình thản, mắt ráo hoảnh, ôm hai đứa trẻ hai bên nách, mỗi đứa một vú, nhưng thỉnh thoảng lại quay ra khóc hức lên như bị đòn oan. Dì Minh bảo mẹ tôi: “Dì cho hai em bú no rồi, cháu ngồi đây trông cho dì một lát, dì qua sông cất hàng về bán nhé!”. Hôm ấy đã là đầu đông rồi, nhưng đêm qua có một trận mưa to trái mùa trên mạn núi nên nước dồn về như lũ. Con sông Thương quê tôi thường thì rất êm ả, hiền hòa, thế nhưng cũng có lúc giở chứng khôn lường...

Dì Minh không bao giờ về nữa. Mẹ tôi bảo, hôm ấy nghe tiếng dì Minh gào lên to lắm, vang động cả khúc sông, át cả tiếng nước réo... Rất nhiều người xóm Trại kinh hãi buông bát cơm đang ăn dở chạy ra. Chỉ thấy chiếc thuyền không còn người chèo đang bị dòng nước xoáy quay mòng mòng lảo đảo giữa sông...

Bà ngoại tôi kể: Dì Minh uất ức quá tự tử. Dì để lại bức thư gửi bà nhờ đem hai đứa con vào trại nuôi dưỡng trẻ em mồ côi. Dì không dám nhờ bà tôi nuôi, vì biết là cả làng tôi hồi ấy nghèo lắm. Nhà nào cũng nghèo. Nghèo đến mức nuôi thân, nuôi con đẻ ra còn chật vật nói gì đến giúp ai. Bức thư ấy mẹ tôi đã từng được đọc. “Chị ơi. Em không muốn sống nữa. Em định ôm cả hai đứa con về thủy phủ cho có mẹ có con, thế nhưng chúng nó có tội tình gì đâu. Có tội chăng chỉ là mẹ nó. Bố hai đứa là bộ đội. Anh ấy tên là Thanh, người trên Vĩnh Phúc, đang ở chiến trường xa, không biết sống chết thế nào. Em nhờ chị mang hai đứa đến trại trẻ mồ côi để cho người ta nuôi. Em đã nung nóng sợi dây thép gí vào vai hai đứa để sau này bố chúng nó có còn sống về tìm thì biết con. Và chị em nó chẳng may thất lạc có dấu nhận nhau...”.

Sau thống nhất đất nước mấy năm thì chú Thanh về làng tôi tìm. Ông tôi kể lại cho chú nghe mọi chuyện. Chú hỏi ông bà tôi là mộ dì Minh ở đâu để ra thắp nén nhang. Thế nhưng có chuyện rất lạ là, ngày ấy sau khi dì Minh trẫm mình xuống sông, gia đình nhà ông Thông, họ hàng, làng xóm cũng đi tìm nhưng tuyệt không thấy xác nổi lên. Xuôi thuyền bao ngày xuống tận ngã ba Nhãn, ra tận Lục Đầu giang cũng chả thấy. Người già trong làng nói, nó chết oan khuất, nặng vía quá không nổi xác lên được. Chú Thanh lên trại trẻ mồ côi đón hai con. Nhưng chỉ còn bé Thi. Còn bé Thư, có một gia đình mãi dưới Hải Phòng hiếm hoi đã lên xin nhận làm con nuôi từ mấy tháng trước. Chú Thanh đành đón bé Thi về trên Vĩnh Phúc. Chú nói ổn định rồi sẽ đi tìm nốt bé Thư về nuôi.

Cô Thi kể với mẹ tôi: Hai bố con về quê trên Vĩnh Phúc ở với nhau. Chú Thanh cũng không lấy vợ, ở vậy nuôi con và thỉnh thoảng lại đi tìm đứa con còn thất lạc. Chú xuống Hải Phòng lần theo cái địa chỉ mơ hồ ghi trong hồ sơ trên trại trẻ mồ côi. Đến nơi thì gia đình ấy đã dọn đi chỗ khác. Hỏi thăm đi lại mãi mới tìm được ra địa chỉ thì nhà ấy lại đã vào Đà Nẵng. Gia đình ấy làm nghề đi biển nên không ở lâu một chỗ. Chú vào Đà Nẵng để lần theo dấu tích, thì lại thấy bảo nhà ấy đi nước ngoài cả rồi. Chú tuyệt vọng. Đêm đêm không ngủ được, ngồi bó gối, hết ngắm đứa con còn lại rồi lại ngóng nhìn ra cổng, như chờ đợi một phép màu nào đó, một sớm mai kia, đứa con lưu lạc của mình chạy lon ton về qua ngõ...

Hai bố con cứ gà trống nuôi nhau như thế. Cô Thi dần lớn lên, cô học hết trung học, đi sư phạm, về làm cô giáo gần nhà. Chú Thanh là thương binh, sức khỏe yếu, dần già đi. Thế nhưng chú chưa một lúc nào nguôi về đứa con thất lạc của mình. Chú vẫn nhờ người nhắn tìm khắp nơi để dò tung tích. Rồi đúng là trời cũng chiều người có tâm, vào năm cô Thi hai ba tuổi, vừa đi lấy chồng xong thì có tin của cô Thư. Cô hiện định cư ở mãi bên nước Úc xa xăm...

Cô Thi lấy chồng nhà con một, trên phố thị Vĩnh Yên. Chú Thanh nghĩ mình đã hoàn thành nhiệm vụ của người cha với đứa con thứ nhất. Chú quyết đi tìm đứa con thứ hai. Chú bán tất cả gia sản, chia cho cô Thi một nửa, nhưng cô quyết không nhận. Cô nói: “Cha cầm lấy đi tìm em con về. Bao giờ chị em gặp nhau, còn bao nhiêu cha cho chúng con cũng nhận”.

Thế là chú Thanh tìm đường sang Úc. Chả biết bằng cách nào, rồi chú cũng sang tới nơi gia đình bố mẹ nuôi cô Thư sinh sống. Phải nói là đã từng sinh sống thì đúng hơn, bởi sau khi sang đây ở một thời gian ngắn, không hiểu sao ông bà ấy mắc trọng bệnh chết cả. Cô Thư bơ vơ một mình ở nơi xa lạ. Rồi cô được một nhà sư người Úc gần đó mang về nuôi nấng tại một ngôi chùa nhỏ. Khi cha cô tìm sang, đến chùa thì cô đã ở đó hơn chục năm. Cô đã quen với cảnh chùa. Tiếng Việt cũng chỉ còn bập bẹ. Thế nhưng hình dáng của hai đứa trẻ sinh đôi giống nhau như lột thì không thể tả nổi. Chú Thanh đưa hình ảnh người chị gái song sinh bên Việt Nam cho cô Thư xem. Và cả cái hình đánh dấu xé lòng của người mẹ bên vai trái mỗi đứa con mình. Đang từ ngỡ ngàng bối rối, cô nhào vào lòng người đàn ông già nua khắc khổ khóc như mưa như gió. Những tiếng “Cha ơi...” bằng tiếng Việt nghẹn ngào, ngọng nghịu thốt nhiên bật qua miệng cô lần đầu tiên...

Chú Thanh ngỏ ý muốn đưa cô Thư về Việt Nam sống. Nhưng bà sư già người Úc đã cưu mang cô bấy lâu nay lại đang ốm nặng. Cô không nỡ chia tay. Chú Thanh cũng không nỡ chia tay con. Chú cũng ở lại chùa cùng con mình. Bà sư già vừa viên tịch thì chú Thanh cũng ốm nặng. Chú không kịp đưa cô Thư về quê hương gặp người chị song sinh thì qua đời. Hai cái tang của hai người thân thiết nhất cùng một năm. Lại đã được nghe cha kể lại câu chuyện của mẹ đẻ, cô Thư buồn quá, quyết xuống tóc đi tu, trụ trì ngay tại ngôi chùa bên đó, không trở lại đời thường nữa...

Ở Việt Nam, cô Thi lấy chồng xong, đúng chín tháng mười ngày, cô đẻ sinh đôi hai thằng con trai. Những tưởng cuộc sống của cô từ giờ trở đi mỹ mãn hạnh phúc. Nhưng tai họa ập đến. Chồng cô bị tai nạn giao thông không qua khỏi. Bố mẹ chồng cô Thi đau buồn quá cũng lần lượt qua đời. Ba mẹ con cô bỗng chốc thành bơ vơ. Cô đành ôm con đến trường xin một cái phòng xép ở nhờ. Đêm đầu tiên một mình ôm hai đứa con nằm trong gian nhà trống, gió lạnh không ngủ được, cô bỗng thấy thương mẹ mình hơn cả thương thân mình cô quạnh. Cô chợt hiểu lúc đó mẹ cô đã bế tắc cùng cực thế nào. Cô thương mẹ đến xé lòng. Và cô thương hai đứa con. Cô nghiến răng trong đêm tự thề, dù thế nào cũng phải sống để nuôi hai đứa con nên người. Thật may cho cô, lúc ấy xã hội đã bắt đầu đổi mới. Ngoài giờ lên lớp, cô lăn ra làm đủ thứ để kiếm tiền nuôi con. Mới đầu cô chạy chợ thu mua nông sản bán cho ngoại thương xuất khẩu. Nhờ chăm chỉ sớm hôm, cô tích lũy dần được một món kha khá. Cô mua một miếng đất rìa làng gần ngay trường dựng lên một ngôi nhà để ba mẹ con ở với nhau. Và lấy chỗ chứa hàng hóa giao dịch. Khoảng đất đồi toàn sỏi ong đến trồng sắn còn không lên nổi nên cô mua một, nhưng nhà chủ bỏ đi Tây Nguyên làm ăn còn cho thêm tuốt cả nửa quả đồi liền kề. Bỗng một ngày kia, phố thị Vĩnh Yên nhỏ bé mở rộng phát triển lên thành phố, căn nhà, khu đất mấy nghìn mét vuông của cô Thi thành ra mặt đường lớn rất có giá trị. Một người bạn cùng học sư phạm ngày trước, cũng đã bỏ nghề như cô ra làm kinh tế, rủ cô cùng lập nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng. Cô Thi bán luôn cả mảnh đất đẹp mấy nghìn mét vuông lấy tiền cùng bạn đầu tư. Thế rồi công ty của cô Thi và bạn mình ăn nên làm ra. Cô Thi trở thành giám đốc điều hành. Từ đấy cô như cá gặp nước, phát huy được hết khả năng của mình. Rồi cô lấn sân sang cả việc cai thầu các công trình xây dựng. Rồi cô làm các dự án bất động sản khắp nơi. Và cô trở nên giàu có. Rất giàu...

Hôm cô Thư bên Úc về, hai chị em tới bến Chi Li lập đàn cầu siêu cho hương hồn người mẹ, làng tôi ra xem đông lắm. Ai cũng xuýt xoa là hai cô đẹp, óng ả nền nã giống y như mẹ đẻ thuở xưa. Làm lễ xong hai cô vào chào mẹ tôi. Ông bà ngoại tôi cùng với cả ông Thông thì đã mất từ lâu. Mẹ tôi ốm yếu, không đi ra bờ sông được. Mẹ tôi bảo hai cô: “Khổ thân mẹ chúng mày ngày xưa oan ức. Phải trầm mình ở bến Chi Li. Làm cho chúng mày mỗi đứa một phương. Nhưng mẹ chúng mày sống khôn chết thiêng nên vẫn quanh quẩn ở bến Chi Li này đợi con đấy”.

Cô Thi bảo tôi:

- Cháu học về kiến trúc, vẽ thiết kế cho cô cả dải bến sông bỏ hoang quê mình thành một khu sinh thái nhé. Và nhất thiết phải đắp một quả đồi bên sông trồng toàn giống đào ăn quả như xưa. Cô sẽ cho xe lên ngay vùng núi Lạng Sơn bứng ít cây đào to về trồng. Để tới mùa xuân, những cây đào ấy nở hoa, cánh sẽ rơi xuống dòng sông, thành một dòng sông hoa đào. Để cho hương hồn mẹ cô được mát mẻ. Cháu thiết kế cả một cái bến sông với con đò nhé. Dòng sông với con đò nó là hình ảnh quê ta xưa đấy...

Truyện ngắn của TRẦN THANH CẢNH