Hạnh hình dung ra chuyến đi và con đường phía trước đang chờ đợi. Trong mớ hình dung lẫn lộn ấy, xuất hiện một khuôn mặt mà đã nhiều đêm Hạnh mất ngủ vì nhớ. Một khuôn mặt rất quen thuộc nhưng cũng rất xa xôi. Một khuôn mặt mà Hạnh đã từng giấu nó suốt bao nhiêu năm qua trong sự trăn trở, lúc buồn, khi vui thậm chí trong cả nỗi đau những lần vấp ngã trước cuộc đời...

*

*      *

Ngày... tháng... năm...

Thế là mình đã lên được biên giới. Cả quãng đường dài đi bộ mấy chục cây số không một bóng người. Một mình đi trong rừng âm u, hoang sơ, lành lạnh... mình cũng sờ sợ. Đúng là đường lên biên giới ngửa mặt là núi, cúi mặt là suối. Có một nhà thơ đã nói về chân dung người lính biên phòng “chân đạp mây bay tóc vờn gió núi” thật chẳng sai chút nào.

Mình vừa vượt qua dốc Mất Em thì nhìn thấy lá cờ Tổ quốc. Các anh ở Biên phòng tỉnh đã dặn lên biên giới, đi bao giờ nhìn thấy cờ Tổ quốc thì ở đó sẽ là đồn. Để túi đồ bên đường, mình tìm một bụi cây lúp xúp bước vào. Bỗng có tiếng quát rất gần, giọng kiên quyết:

- Ai? Làm gì ra ngay!

Rồi tiếng lách cách của kim khí. Mình sợ quá luống cuống vội trả lời:

-  Em! Em...

-  Ra ngay, không tôi bắn!

Chẳng kịp gì, mình kéo vội khóa rồi lao ra...       

Hạnh tủm tỉm cười khi nhớ lại cái lần “són ra quần” ấy.                                                                            

- Cô ơi! Cô có điện thoại thì phải?

Giật mình, Hạnh quay lại. Một anh bộ đội còn trẻ ngồi phía đầu ghế ngoài, quân phục ngay ngắn. Thoáng nhìn, Hạnh cứ ngờ ngợ như gặp ở đâu rồi thì phải. Nhìn điện thoại, Hạnh thở dài uể oải: “Anh à. Em đang ở trên tàu. Có gì anh nói nhanh lên, máy báo pin sắp hết!”.

Cúp máy đút lại vào túi xách. Trong mọi cái chán mà cô phải chịu, có lẽ chán nhất khi đi công tác, Thường cứ gọi điện hỏi đi đâu, làm gì, bao giờ về?... Cứ như là thẩm vấn. Bạn bè ai cũng khen Hạnh may mắn được chồng quan tâm, lo lắng, đi khỏi nhà là điện, đang làm cũng điện... Những cú điện đều đặn của Thường vừa có sự quan tâm nhưng cũng vừa là sự mất lòng tin. Hạnh cũng không thể lý giải được tại sao lại như thế.

leftcenterrightdel
Minh họa: MẠNH TIẾN

- Cô làm sao thế. Cô mệt ạ?

Hạnh nhìn kỹ người lính. Trán rộng, lông mày rậm, mắt sáng, mũi cao thẳng, môi đỏ, miệng nghiêm, tướng mặt khó gần, nhưng những người như thế này thường sống có chiều sâu nội tâm, tính tình thẳng thắn, chân thành cởi mở. Hạnh lắc lắc đầu xua đi sự ám ảnh. Lúc mới gặp, Hạnh ngờ ngợ và bây giờ cái ngờ ngợ ấy lại ùa đến...

*

*      *

Ngày... tháng... năm...

Mấy ngày trước, anh Trải (sáng nay mình mới biết bằng tuổi), trung đội trưởng vũ trang, gọi mình lại nói giọng rất quan trọng:

- Chị Lam Hạnh này, tôi phải bảo cho chị biết kẻo sẽ gay go...

- Cái gì thế anh?

- Ở đây có loại vắt to lắm đấy. Loại vắt này hơi con trai không sao, gặp hơi con gái nó bám vào rồi thì rứt không ra được đâu.

- Thật không anh?

- Thật!-Trải nói, mặt lạnh tanh.

Mình sợ, đi đâu, làm gì cũng có ý cảnh giác ngó nghiêng để tránh. Hôm sau gặp anh Phán đồn trưởng, mình hỏi. Anh chỉ cười, không trả lời mà nói lảng sang chuyện khác. Mình ngố thật. Đêm ấy nghĩ mãi, đến khi hiểu ra mình cứ thế ôm gối cười...

Mấy hôm nay Tổng biên tập gọi lên nhắc gửi bài về. Mình đang lo thắt cả ruột. Ở dưới nhà quen dùng máy chữ, lên đây phải viết bằng tay đến khổ. Không hiểu sao Trải biết được điều đó: “Tại sao chị không nhờ mấy anh em ở đồn chép cho. Ở đây, một trăm phần trăm ai cũng biết viết bằng hai tay”. “Thật không anh?”. Mình hỏi đã có ý cảnh giác. “Thì chị bảo, ở biên giới xa xôi hẻo lánh, hết giờ trực anh em tôi còn biết làm gì nên tập viết hai tay. Không tin chị hỏi đồn trưởng xem!”. Giờ thể thao buổi chiều, mình đem chuyện ra nói để nhờ anh Phán bảo mọi người chép giúp và cũng là để kiểm tra thông tin của Trải. Vừa nghe xong, anh đỏ mặt, lắc đầu: Cái thằng này thật quá đà, quá đà... Sau này ngẫm lại, thấy sao mình ngu vậy, có thế mà không nghĩ ra...

Ngày... tháng... năm...

Nghe nói Trải xuống bản, mình đòi đi theo. Bản Páo mà mình và Trải đến chỉ có dăm nhà. Nhìn thấy trước mặt mà đi đến rã chân ra mới tới. Chiều thấy trời nhiều mây, Trải bảo phải về ngay nếu không sẽ gặp mưa lũ. Trải đi nhanh lắm, mình phải chạy gằn mới kịp. Về đến bờ suối Ngàn thì trời đổ ập mưa xuống. Nghe tiếng mưa rơi ào ào từ xa, mình đang định xắn quần lội qua thì Trải nắm tay cứ thế lôi đi, miệng giục chạy cho thật nhanh. Chạy lên được đỉnh đồi, ngoái đầu nhìn lại, con suối Ngàn ngập chìm trong bùn đất và đá núi. Lúc này mới biết, đôi giày tuột mất từ lúc nào, các ngón chân tướp táp, tê dại. Ngồi tựa lưng vào gốc cây, tự nhiên cứ thế mình khóc. Mở mắt ra không thấy Trải đâu. Chưa bao giờ trong đời mình thấy sợ như thế này. Không biết Trải đi đâu để một mình mình ở lại đây thế này. Cái ý nghĩ phó mặc cho số phận vừa lóe lên thì mình nghe tiếng động sau lưng như một vật nặng rơi xuống. Mình sợ quá, nhắm nghiền mắt lại. Sau lũ thường có lở núi, chắc đá rơi. Mình muốn chạy mà không chạy được. Mình muốn lăn mà không lăn được...

- Tối rồi, chị Lam Hạnh thấy đói chưa? Tối nay phải ở lại đây thôi. Không còn đường về đơn vị nữa. Tôi vừa leo lên trên kia quan sát, lũ vây kín bốn xung quanh đây rồi!

Lúc này sao mà mình thấy Trải vô duyên thế. Đùa cợt không phải lối. Vừa giận vừa bực, mình không thèm nói gì cho bõ tức. Hình như Trải không quan tâm đến chuyện đấy, bỏ đi đâu một lúc, rồi ôm về một bó củi hì hụi nhóm lửa...

- Cô ơi, tàu về ga cuối rồi ạ. Cô có gì nặng đưa cháu mang giúp cho. Cô mệt hay sao mà ngủ say thế?

Người lính đã xốc ba lô lên vai đang có ý chờ. Hạnh cười thân thiện.

- Cô cảm ơn!

*

*      *

Sáng ra, Hạnh vội xuống quầy lễ tân trả phòng để đi sớm. Hôm qua lúc trên tàu Hạnh đã hỏi chuyện và biết được đường lên đồn bây giờ không còn phải đi bộ như những năm trước, chỉ có điều xe rất ít chuyến, có khách thì đi, vắng khách thì thôi. Quả thật, con đường với những dốc là dốc bây giờ đã đi lại thuận lợi rất nhiều, ô tô có thể vào từng bản. Con đường mở ra những cánh rừng cũng lùi vào sâu hơn. Tự nhiên Hạnh thấy nhớ, thấy tiếc cái cảm giác sờ sợ nhưng thanh bình trong lành ấy.

Không biết cái đêm trong rừng tránh lũ Trải cứ liều thì cô sẽ ra sao. Trải là ai, cô là ai, thần thánh hay người trần mắt thịt? Nếu ngày đó là bây giờ thì sẽ ra sao?

...Hì hụi nhóm lửa, Trải cầm gậy đi một vòng. Mệt, sợ, chán chường, mình ngồi tựa gốc cây ngủ. Có mùi gì thơm lắm. Cái dạ dày lép kẹp đã đánh thức mình dậy. Mình đưa tay nhận những miếng thịt Trải dúm trong chiếc lá cuốn như tổ sâu nâng lên ngượng ngập không dám ăn. Còn Trải cứ bốc từng miếng ăn ngon lành. Qua ánh lửa lập loè, khuôn mặt Trải hằn chỗ sáng chỗ tối chập chờn, ẩn hiện những nỗi buồn đóng băng trong vùng sâu ký ức.

Quê Trải ở một vùng đồng bằng, sống bằng nghề chài lưới. Cả nhà mười một con người tất tật từ ăn uống, ngủ nghỉ, vệ sinh đều gói gọn trong chiếc thuyền chưa đầy chục mét vuông. Rồi đến một năm, người bố quyết định bán ngôi nhà thuyền mang tiền đóng góp vào hợp tác xã. Thời gian đầu tuy không quen việc nhà nông nhưng dẫu sao cái vui lấp đầy nặng nhọc, số tiền dư dôi còn lại cũng đủ trang trải cái ăn cái uống không đến nỗi chật vật. Nhưng người bố cũng nhận ra rằng nếu cứ duy trì mãi cái lề lối làm ăn kẻng vác cuốc đi, còi rúc vác về thì chẳng bao lâu nữa gia đình sẽ khánh kiệt. Công đi làm cả ngày vài ba lạng thóc mà phải đến mùa mới được lĩnh. Thế là người cha để vợ con làm nghề nông còn mình xoay sang làm vó lưới đem bán cho những gia đình vạn chài. Tuy bị người làng miệt thị là “cá thể”, song đời sống gia đình có chiều hướng khá. Gia đình ông có người cháu gọi ông bằng cậu, vốn trước đây cũng làm nghề buôn bán vó lưới, nhưng khi phong trào vào hợp tác xã phát triển thì hăng hái làm đơn xin một chân vào bán cửa hàng hợp tác. Thấy người cậu làm ăn có chiều phát đạt, người cháu đã ngầm báo cho cán bộ thuế phục bắt hết hàng của ông. Bao nhiêu vốn liếng ông đã đem mua hết hàng nên thành tay trắng.

Năm ấy bão lũ tràn về đê vỡ mùa màng thất bát, mười phần không thu được một. Không tiền, không gạo, cả làng đều nghèo đều khổ như mình biết chạy vay ai. Mấy đứa bé lại trúng dịch tả, người ngợm như chiếc giẻ. Cùng đường, ông dắt cả nhà bỏ làng ra đi. Vì làm nghề chài lưới, ông đưa vợ con cứ ngược sông mà đi, có gì còn dựa vào sông kiếm sống.

Đi hết tháng này qua năm khác, gia đình ông cũng đến được vùng thượng nguồn, nơi chỉ có rừng cây và đá núi. Ông cùng vợ con lại bám vào sông vào suối mà sống. Khi kinh tế tạm ổn, ông dịch dần gia đình về phía dưới, nơi có trường lớp để cho con cái được học cái chữ như người. Cái người con út tưởng giời bắt đi ngày nào do đói do dịch bây giờ đang ngồi trước mặt mình đây, giữa rừng vắng trong vòng vây của lũ.

Đêm sâu, hơi núi phả ra lạnh lẽo như ám khí. Tự nhiên mình khóc, khóc vì sợ và khóc vì một quãng đời lầm lụi của Trải. Cũng rất tự nhiên, bản năng của người phụ nữ mách bảo mình chở che. Mình muốn được sẻ chia, gánh đỡ dù chỉ một phần tủi cực mà Trải đã chịu. Mình ôm Trải vào lòng, mặc cho nước mắt chảy xuống bờ vai khét mùi mồ hôi...

Đến chân dốc Mất Em, Hạnh xuống xe, túc tắc đi bộ, men theo rừng cây bên đường. Đây là rừng mới trồng. Lên đến đỉnh dốc, Hạnh ngồi nghỉ. Kia là chỗ Trải đã phát hiện ra cô. Như phản xạ tự nhiên, Hạnh đứng lên đi vào lùm cây.

- Ai, ra ngay! - Một giọng hỏi nhưng rất kiên quyết.

- Tôi. Tôi đây!

Hạnh bước ra. Một thoáng ngỡ ngàng, cả Hạnh và người lính cùng nhận ra nhau. Theo chân người lính về đồn. Tranh, người bạn đồng hành với cô trên tàu chính là con trai của Trải.

Gặp được Tranh, Hạnh rất vui. Hạnh cũng không ngờ rằng đêm tránh lũ năm xưa đã làm cho Trải gặp bao phiền toái. Con người có thể chết vì đói nhưng con người cũng có thể chết vì điều tiếng. Một trai một gái trong rừng cả đêm với nhau, ai người làm chứng, ai người dám bảo đảm sự trong sáng. Dẫu không ai nói ra nhưng từ cái nhìn nghi hoặc, lời xì xào đàm tiếu, sự nghi ngờ trong đơn vị đã đánh gục Trải.

Không thể thanh minh và cũng chẳng cần thanh minh, Trải làm đơn phục viên. Cũng có một số người khuyên Trải về tìm Hạnh nhưng Trải đã từ chối. Với Trải, người con gái danh dự và phẩm tiết quý hơn sự sống. Có lẽ cái liêm sỉ của con người lớn nhất là biết chịu thiệt để người khác vẹn toàn. Lợi cho mình mà hại người khác thì không có cái vô liêm sỉ nào bằng. Và Trải tin, một niềm tin sắt đá rằng sẽ có ngày Hạnh quay trở lại...

Trải ơi, em đã trở lại đây. Những gì em ghi lại được trong chuyến công tác đầu tiên em đưa cho Tranh rồi. Em biết, bao nhiêu năm qua anh đã không cần đến cuốn sổ này. Ngày ấy, khi em trở về Hà Nội, anh tiễn đến dốc này. Em hỏi tại sao dốc có tên Mất Em. Anh bảo đã có rất nhiều người, có cả những cô là người yêu của anh em cán bộ, chiến sĩ trong đồn, sau khi lên thăm đồn rồi trở về dưới xuôi, vượt qua dốc này rồi chẳng có mấy người trở lại. Ngày ấy em không tin, em chỉ nghĩ là anh lại trêu đùa hay nói thế để có ý nhắc khéo em thôi.

Có tiếng chuông điện thoại reo. Số máy của Thường. Hạnh bấm phím ngắt rồi nhét sâu xuống tận đáy túi...

Truyện ngắn của PHẠM THANH KHƯƠNG