Đầu năm 1954, khi tôi đang theo học tại Trường THPT Hàn Thuyên, tỉnh Bắc Ninh (khi ấy trường tản cư ra vùng tự do ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) thì nhà trường phát động phong trào xung phong gia nhập Quân đội nhằm bổ sung cho các đơn vị chủ lực của ta đang chiến đấu trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Pháp trên đà chuyển mạnh từ phòng ngự sang tổng phản công. Lúc ấy tôi mới 16 tuổi, không đủ tiêu chuẩn nên cứ phải năn nỉ mãi, cuối cùng cũng được chấp nhận.

Sau mấy tháng vừa hành quân, vừa huấn luyện, tập làm quen những điều cơ bản về điều lệnh, về quân phong, quân kỷ… tôi được phiên chế vào Đại đội 11, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 176, Sư đoàn 316.

leftcenterrightdel

Minh họa: QUANG CƯỜNG

Sư đoàn 316 chúng tôi ngày đêm hành quân tiến vào Mặt trận Tây Bắc.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ (chiến thắng lịch sử này Sư đoàn 316 chúng tôi có vinh dự được tham gia với vai trò là một mũi giáp công), Hiệp định Geneva (tháng 7-1954) được ký kết, hòa bình lập lại ở miền Bắc, sư đoàn chúng tôi được chuyển về Thanh Hóa vừa làm nhiệm vụ huấn luyện xây dựng bộ đội tiến lên chính quy, hiện đại, vừa hỗ trợ chống Mỹ-ngụy cưỡng ép đồng bào công giáo di cư vào miền Nam.

Năm 1956, tôi được giao nhiệm vụ là Tiểu đội trưởng Tiểu đội nuôi quân của Đại đội 11. Do có thành tích phục vụ đơn vị nên tôi được chi bộ xếp vào diện đối tượng phát triển Đảng.

Như trên đã nói, tôi vốn là học sinh chưa đủ 18 tuổi để tham gia quân đội, khi ấy theo quy định chung tôi bị liệt vào thành phần giai cấp tiểu tư sản; thân hình tôi mảnh khảnh, da trắng, cao gầy lêu nghêu, ăn nói mạnh dạn, trông bề ngoài cũng đã biết ngay tôi chả có dáng dấp “công nông” tí nào. Trong hoàn cảnh ấy, tôi rõ ràng là một đối tượng cá biệt.

Một buổi tối, anh Nguyễn Hữu Thống, Bí thư chi bộ, Chính trị viên đại đội gọi tôi ra nói chuyện. Tuy đã biết rất rõ lý lịch và quá trình phấn đấu của tôi nhưng anh vẫn hỏi: “Vì sao em muốn xin gia nhập Đảng?” (không hiểu tại sao trong môi trường quân ngũ thời ấy, là thủ trưởng mà đồng chí ấy lại gọi tôi là em). Thấy thủ trưởng có thái độ thân tình, trong không khí cởi mở ấy, tôi cũng mạnh dạn gọi đồng chí ấy là anh và quên béng những điều mà hai đảng viên được phân công theo dõi, giúp đỡ tôi đã dặn phải ghi nhớ, đại ý là: Vào Đảng vì lý tưởng cộng sản cao cả, mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng quang vinh, suốt đời được là một chiến sĩ cách mạng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới…

Tôi đã hồn nhiên như một đứa em nhỏ, không màu mè công thức gì, tôi cũng xưng em với anh và bộc bạch lòng mình: “Em thấy trong Đảng, những đảng viên ở đại đội ta đều là những người tốt, y như hồi nhỏ em thấy những bác nông dân cần cù, lam lũ, chất phác ở làng em mà bố em vẫn bảo đó là những người tử tế. Hằng ngày, ở đơn vị ta, các anh ấy cũng làm những việc như em mà sao em cứ thấy các anh ấy lớn lao, cao thượng hơn mình, em tự thấy mình bé nhỏ hơn họ nhiều lắm; em muốn vào Đảng để học tập và trở thành “người lớn”, “người tử tế” như các anh ấy”.

Anh ngắt lời tôi, hỏi: “Em hiểu thế nào là người tử tế?”. Tôi lúng túng chưa biết trả lời anh thế nào, bỗng ký ức gợi về, tôi nhớ lại thời thơ bé ở nhà với cha mẹ và kể lại với anh rằng: “Bố em là một thầy đồ nho, thuở em còn đang học tiểu học, có lần bố em gọi mấy anh chị em chúng em ngồi lại mà giảng dạy rằng: Các con ạ, gốc của chữ “tử tế” là từ chữ Hán. Chữ “tử” có nghĩa là những chuyện nhỏ bé; chữ “tế” nghĩa là những chuyện bình thường. Hai chữ “tử tế” gộp lại có nghĩa là cẩn thận từ những việc nhỏ bé, rồi do lâu đời dân ta dùng nó quen trong cuộc sống, với nghĩa vừa trừu tượng, cao sang, vừa cụ thể, dân dã đời thường. Tử tế không chỉ là ở lời nói mà chủ yếu là từ suy nghĩ, biểu hiện ra hành động. Đối lập với tử tế là đểu giả, hèn mạt, dối trá, gian manh, xu nịnh, ích kỷ… Sự tử tế không phải là tiêu chuẩn riêng của một đẳng cấp nào. Làm người ai cũng có thể thành người tử tế, phải được dạy dỗ ngay từ thuở ấu thơ và phải được rèn luyện suốt đời… Em chỉ nhớ có vậy thôi”.

Nghe tôi nói đến đây, anh Nguyễn Hữu Thống có dáng cao, da sạm nắng, thái độ thân tình và lịch lãm (mãi về sau này tôi mới biết anh cũng là một sinh viên nghe theo tiếng gọi của Đảng, xếp bút nghiên lên đường tranh đấu; anh biết sử dụng cả hai ngoại ngữ là tiếng Hán và tiếng Pháp) bỗng ôm tôi vào lòng và thủ thỉ với tôi như một người anh quý mến nói với đứa em ruột thịt, bé nhỏ của mình: “Em lớn lên rồi đó. Hãy vững bước nghe em!”.

Ít lâu sau, tôi được dự một lớp huấn luyện ngắn và được giao cho một số việc khó (khi là đảng viên rồi tôi mới biết đó là sự thử thách). Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, giữa năm 1956, tôi được kết nạp Đảng và ngày 28-2-1957, tôi được xét chuyển đảng viên chính thức rồi được điều động đi làm nhiệm vụ mới ở đơn vị khác. Tôi và anh Nguyễn Hữu Thống xa nhau từ ngày ấy. 

Tôi tiếp tục các nhiệm vụ do quân đội giao phó với hành trang mà bố tôi dạy bảo, với nhiều bài học về luân lý, đạo đức mà nhà trường giáo dục, nhất là với vốn liếng vô cùng quý giá do những năm tháng được chiến đấu, học tập với những người đồng ngũ thuở đầu đời của tôi ở Đại đội 11, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 176, Sư đoàn 316 mà tiêu biểu là hình ảnh người Chính trị viên đáng kính, anh Nguyễn Hữu Thống, tôi tiếp tục đi trên đường đời đầy gian khó qua mấy cuộc chiến tranh…

Từ đó đến nay đã 63 năm, biết bao thăng trầm với rất nhiều biến thiên của lịch sử mà tôi được chứng kiến, rất nhiều đảng viên mà tôi được làm việc, được tiếp xúc (có người là cấp trên và cũng có người là cấp dưới trực tiếp hay học trò cũ của tôi) đã làm cho tôi ngày càng thấm thía rằng: Trong Đảng ta, hầu hết đảng viên, dù là cán bộ cao-thấp khác nhau, dù ở lĩnh vực nào, ở bất cứ nơi đâu nhưng những ai xứng đáng với danh hiệu cao quý ấy thì đều là những người tử tế, cao thượng và ngược lại.

Thật mừng vì trong xã hội hiện nay tuy đây đó từ chốn công sở đến phường, xã, xóm, thôn thi thoảng vẫn còn gặp không ít nhiễu nhương, thậm chí vô nhân… nhưng dòng chủ lưu của sự tử tế vẫn đang cuồn cuộn chảy trong hàng chục triệu con tim, khối óc người Việt Nam; trên thực tế, trong Đảng, trong lực lượng vũ trang, trong các cơ quan, trường học… và trong các làng quê hẻo lánh của ta, đâu đâu vẫn đang có nhiều người tử tế lắm.

Buồn và giận những cán bộ thoái hóa, biến chất, song bình tĩnh ngẫm suy, chúng tôi lại bảo nhau, không vì những cán bộ thoái hóa, biến chất đó mà hoang mang, dao động, mất niềm tin vào lý tưởng của Đảng, của Bác Hồ; dù sao thì họ chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”, sự tử tế của đa số đảng viên và quân dân ta sẽ là phương thuốc hữu hiệu cho cây đời mãi mãi xanh tươi.

Từ ngày ấy, tôi và anh Thống, hai anh em chúng tôi mỗi người một ngả, do chiến tranh nên điều kiện liên lạc khó khăn, cho dù cố tìm nhưng chúng tôi vẫn bặt tin tức của nhau.

Thật không ngờ, một niềm vui lớn lại đến với tôi vào một chiều xuân năm nay (2020), khi xem truyền hình tôi được nhìn thấy anh-cụ già tên là Nguyễn Hữu Thống-hơn 90 tuổi vẫn khỏe mạnh, quắc thước, hằng ngày vẫn đạp xe đi mua sách cũ bằng đồng lương trung tá về hưu ít ỏi để xây dựng tủ sách cho làng quê yêu dấu thanh bình của mình ở Đồng bằng Bắc Bộ.

Vui mừng biết bao, tôi bỗng hét to lên: “Đây rồi, anh đây rồi, anh Nguyễn Hữu Thống, người Bí thư chi bộ, người Chính trị viên đại đội đáng kính của em, đây rồi!”.

Sớm nay, mặc cho dịch  nCoV đang hoành hành, mặc cho khí trời lạnh rét, mặc cho không khí đang ở mức có hại (AQI 167), tôi vẫn bắt xe tìm về nơi làng quê xa xôi kia để lại được ôm lấy anh mà tâm tình như ngày nào, từ hơn 60 năm qua. Thật là “trời còn để có hôm nay”.

PGS, TS TRẦN ĐÌNH HUỲNH (nguyên Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng)