leftcenterrightdel
Mùa xuân về ở Quản Bạ, Hà Giang. Ảnh: HUY ĐĂNG 

Dưới chân là ruộng.

Chẳng phải thứ ruộng thẳng cánh cò bay có thể cày bằng máy, gặt đập liên hiệp bằng xe.

Chẳng phải thứ ruộng có kênh mương nội đồng, đầu mùa có thể tháo nước đầu này để làm mạ, giăng dây, cuối mùa xả ở đầu kia, róc rách cạn khô, nẻ ra, để đốt rơm, làm ải.

Chỉ là thứ ruộng khai phá bằng sức người. Cuốc cuốc, san san, đạp đạp. Vạc vạc, be be, che che, đắp đắp. Mùa này qua mùa khác, vụ này qua vụ khác, cỏ dại, lau lác được nhấn trong bùn, sền sệt tanh tanh, vàng xanh lẫn lộn, váng lên thứ váng cứng có thể bẻ ra được, sóng sánh vũng nước rỉ ra từ khe núi mà thành ruộng.

Ruộng ấy, cấy rồi, làm cỏ, bỏ phân, phân chuồng, phân xanh, phân gì cũng chẳng được bao nhiêu lúa.

Lúa ấy chín rồi thì dùng liềm mà gặt, dùng vai mà gánh. Gánh về thì lấy chân mà vò, mà đạp, lấy tay mà sảy, mà phơi, rồi thì cho vào cối giã mà thành gạo, nấu thành cơm.

Nhà tôi phía đó.

Nhà tôi ở đó.

Rẻo đất nhỏ san thành con đường nhỏ, chạy nhùng nhằng từ sườn đồi bên này sang sườn đồi bên nọ, men theo bờ ruộng, vượt qua con dốc xói rồi hướng vào sân.

Chỉ là một khoảnh sân nhỏ, nhà nào cũng thế, bao giờ cũng thế, ngày mưa thì rất trơn, ngày nắng thì mát lịm vì nền đất ẩm. Bước qua khoảnh sân xiu xíu đó, khoảnh xi măng bé nhỏ, nhám sần sẽ đón bàn chân lạ. Chỉ chân lạ mới đi vào đó, bởi chân quen, như chúng tôi, như dân ở đây thì ai cũng biết khoảnh xi măng đó làm ra là chỉ để phơi phóng chứ nào phải để chơi.

Mùa lúa thì phơi lúa, mùa ngô lại phơi ngô, chẳng ngô, chẳng lúa thì đầy sân sắn.

Chỉ những ngày mưa sân mới được thảnh thơi mà hít thở, thảnh thơi nằm nghe bong bóng sủi lên từ những lỗ vỡ, lỗ chỗ, rải rác đây đó bởi lũ chó, lũ mèo và lũ gà ngang ngược.

Viền ngoài của khoảnh xi măng đó, bao giờ cũng thế, rau đay, hoa cúc, dây khoai lang, chen chúc nhau, khuềnh khoàng nghiêng ngó. Cuối sân, bao giờ cũng thế, là cầu nước, là tích nước lần, rêu trơn tườn tượt, tếch toác những dấu chân gà.

Nhà tôi ở đó.

Nhà tôi phía đó.

Như trăm ngàn ngôi nhà trên sườn đồi dốc, như trăm ngàn những đứa trẻ Tây Bắc tứ mùa quần lủng, chúng tôi chơi ở sân sau.

Nền nhà bạt trên đồi nên bao giờ cũng có sân sau. Sân sau nhẵn lỳ. Sân sau bao giờ cũng có ta luy, trên ta luy bao giờ cũng là cọ, dưới tán cọ là sắn, là ngô, là chỗ buộc trâu, là chốn thả bò, là nơi chơi trốn tìm, là chỗ đi kiếm củi.

Vừa chơi vừa làm là như vậy.

Hòm hòm công việc mẹ giao, cơm đã thổi, nhà đã quét, chuối lợn đã thái mà cha mẹ chưa về, bao giờ cũng thế, chúng tôi sẽ chơi nhảy cầu. Giả vờ phía dưới là sông, đứng trên tả li, vén quần nhảy “ùm” xuống, vùng vẫy trên “mặt nước”. Nhảy gần, nhảy xa, toạc cả quần, trẹo cả chân, sằng sặc cười, nắc na nắc nẻ.

Những cú nhảy ấy đầy lần làm hoảng sợ con gà mái mẹ nằm trong đống củi. Lần nào cũng vậy, nếu thấy nó nhảy ra, lấc la lấc láo, táo ta táo tác: “Cục ta cục tác!” thì đích thị là nó vừa đẻ vụng. Lục trứng ấy mà mang đi luộc trộm, rồi chia nhau đứa ăn lòng trắng, đứa giằng lòng đỏ thì chỉ có nhất đời!

Mẹ chẳng biết đâu, mẹ chỉ đếm trứng trong ổ thôi. Cuối ngày, khi đã lủi chân vào mảnh chăn con công cáu cờ cáu cống (vì cho dẫu mẹ nói thế nào thì lũ con cũng đầy lần mải lười không thèm rửa), chúng tôi cấu nhau, nín khe, dỏng tai nghe mẹ lẩm nhẩm phía đầu hồi: “Quái! Con này hôm nay lại không chịu đẻ. Mai bố mày xúc thêm cho nó bơ thóc nữa để nó ăn no, nó đẻ, chứ bữa đực bữa cái thế này, cuối tuần lấy gì bán mà mua dầu để còn thắp sáng...”.

Tản văn của HÀ NGỌC