Đó là các thầy: Nguyễn Hàm Dương, Nguyễn Văn Khỏa, Bùi Duy Tân, Bùi Ngọc Trác, Nguyễn Bá Thành, Phạm Gia Lâm, Phạm Thành Hưng, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Đỗ Tiến Thắng… Dường như giữa đời thường, các thầy chìm đi trong công việc, đời sống, không mấy khi nói chuyện về mình. Các thầy làm chuyên môn, làm quản lý ở những vị trí chủ chốt như chủ nhiệm bộ môn, phó chủ nhiệm, chủ nhiệm khoa nhưng thầy nào cũng bình dị, khiêm nhường. Chỉ khi có người này, người khác nói ra, người ta mới biết các thầy đã có một thời sống sôi động và đẹp, có những thầy trải qua nhiều năm trong quân ngũ. Xin được kể mấy mẩu chuyện nhỏ về thế hệ những người thầy-người lính đã có vai trò xây nền, đắp móng cho một số ngành học ở Khoa Ngữ văn.

leftcenterrightdel
GS, TSKH Nguyễn Hàm Dương (1930-1992). Ảnh tư liệu

Trong những năm chiến tranh, nhiều người dân ở nơi sơ tán thường ngạc nhiên khi thấy một “ông Tây” ăn mặc đẹp, đội mũ phớt nói chuyện với các sinh viên “cứ như là người Việt”, cũng sà vào chỗ các bà bán cá, rau hỏi giá cả, mua bán rất thành thạo. Mấy bà thì thào “sao lại có ông Tây nào nói tiếng Việt sõi thế?”. Mãi sau mới biết thầy không phải là ông Tây mà là người Việt. Đó là GS, TSKH Nguyễn Hàm Dương, là cựu chiến binh chống Pháp. Cuộc đời thầy như tiểu thuyết cả khi thầy chiến đấu và hoạt động ở Nam Bộ lẫn khi thầy là giáo sư của trường. GS Nguyễn Thiện Giáp kể rằng, thầy Nguyễn Hàm Dương đã từng tham gia lái tàu thủy sang Thái Lan mua vũ khí về cho bộ đội đánh Pháp và sau năm 1954 được Nhà nước cho đi học đại học ở Liên Xô. Thầy tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Lomonosov, làm luận án tiến sĩ và tiến sĩ khoa học ở đó, là một trong những chuyên gia Ngôn ngữ học hàng đầu, đặc biệt là Ngôn ngữ học thần kinh và bệnh mất ngôn của thương binh do thương tật. Thầy kể, thấy nhiều đồng đội bị thương sọ não, mất khả năng nói, thầy đã theo học và dành nhiều tâm huyết nghiên cứu trong lĩnh vực này với hy vọng giúp ích cho những đồng đội của mình. Bình thường, nhìn thầy lúc nào cũng hào hoa, ai cũng nghĩ thầy chưa biết đến gian khổ bao giờ chứ chưa nói gì đến chiến tranh. Thế mà thầy lại là một cựu chiến binh với một quá khứ oanh liệt, ít người có được.

Với thầy Nguyễn Văn Khỏa, cựu chiến sĩ quân báo thì lại khác. Hầu như thầy thích mặc bộ quân phục hoặc giản dị như một quân nhân khi đã làm thầy. Không biết thầy hồi đi học thế nào nhưng khi chúng tôi vào trường luôn thấy thầy lúc nào cũng nghiêm ngắn, chỉnh tề như một chiến sĩ. Cái đẹp giản dị, khỏe khoắn của một chiến sĩ và mọi hành xử của thầy cũng chuẩn mực như một người lính. Thầy rất gần gũi với sinh viên, đặc biệt có cảm tình với những người lính từ chiến trường về. Dường như trong thầy luôn có sự đồng cảm và chia sẻ. Chúng tôi chỉ biết thầy dạy rất hay và lúc nào cũng chuẩn mực, sâu sắc trong những tiết dạy của nhiều giáo trình khác nhau: Thần thoại Hy lạp, Kịch Hy Lạp cổ đại, văn học Anh thời Phục hưng, văn học Pháp thời kỳ Khai sáng...

Tôi vẫn còn nhớ bài thi hết môn năm thứ nhất về văn học Anh thời Phục hưng, thầy ra một đề bài rất khó, cho đến giờ, sau ngót 50 năm, tôi vẫn nhớ. Nguyên văn như sau: “Hãy bình luận câu nói của V.Belinxki: “Hamlet chết, vua chết, Ophelia cũng chết. Không có cái thiện, không có cái ác, tất cả đều mất đi, tất cả đều mai một”. Hồi ấy, khi vừa học xong phần nhập môn môn Lý luận văn học, chúng tôi được nghe các thầy hay trích V.Belinxki, biết ông là nhà phê bình Dân chủ cách mạng Nga luôn có những ý kiến sâu sắc và đúng đắn về văn học nên cứ băn khoăn mãi về đề thi.

Thầy đọc đề xong, đi đi lại lại từ đầu lớp đến cuối lớp, nhắc nhở: “Không nên giáo điều, không nên xuôi chiều, phải đọc kỹ, nghĩ kỹ và viết ra những gì của riêng mình”. Có người thông minh, nhận ra vấn đề đã viết rất tốt bài thi này; có người hiểu lơ mơ (trong đó có tôi) viết chả đâu vào đâu. Thu bài xong, thầy mới nói: “Bản chất văn học là hướng tới cái thiện, cái mỹ, đấu tranh chống cái ác, cái xấu. Vậy mà ông V.Belinxki lại đánh đồng cái thiện với cái ác là sai. Ông này viết câu đó lúc nhận thức còn chưa chín muồi”. Lúc ấy chúng tôi mới hiểu ra vấn đề. Bài học này, cùng với bài giảng rất hay của thầy và lời dặn hãy tự biết mình làm chúng tôi suy nghĩ mãi. Cho đến nay, tôi vẫn còn nhớ cảm giác khi nghe thầy nói về chuyện này.

Thầy chấm và trả bài cho chúng tôi nhưng thông tin: Tất cả những bài của các bạn đã nhập ngũ hôm 6-9-1971 thầy sẽ giữ lại và trả cho các bạn khi các bạn trở về. Thầy nói thầy sẽ cho các bạn ấy 5 điểm hết vì các bạn đã lựa chọn chuyện ra chiến trường làm nghĩa vụ của thanh niên như một nghĩa cử. Chúng tôi nghe thầy nói mà rưng rưng. Sau này, khi đã được làm đồng nghiệp của thầy, tôi lại hiểu thêm về thầy. Chất chiến sĩ ở thầy chưa bao giờ phai nhạt.

leftcenterrightdel
Nhà giáo Nguyễn Văn Khỏa (1932-1988). Ảnh tư liệu

Thầy vào bộ đội lúc còn chưa đủ tuổi. Hòa bình, quân đội định giữ lại đào tạo người quân báo trẻ tuổi để phục vụ lâu dài nhưng thầy không muốn mà muốn về đi học tiếp vì khao khát tri thức luôn thôi thúc thầy. Học xong, thầy được giao giảng dạy văn học phương Tây. Thế là tuần nào thầy và bạn thầy-GS Nguyễn Kim Đính, giỏi tiếng Pháp hơn, lại giúp thầy “đánh vật” với ngoại ngữ. Rồi thầy tự học tiếng Nga. Nhiều truyện thần thoại hoặc các công trình nghiên cứu sau này thầy viết, thầy đã tham khảo từ các công trình nghiên cứu bằng tiếng Nga. Trong đời sống, thầy rất giản dị, thế nào cũng xong nhưng trong công việc thì thầy chỉn chu, đòi hỏi cao. Sau năm 1975, sinh viên là cựu chiến binh về học nhiều, thầy đặc biệt quan tâm tới những người lính từ chiến trường trở về: Trò chuyện, giúp đỡ nhưng cũng khuyên nhủ họ cố gắng vượt lên những khó khăn của riêng mình. Bạn tôi, một cựu chiến binh kể: Nhìn thầy sống, làm việc, mình kính trọng nhưng không theo được. Mình bảo thầy, em không thể làm như thầy vì hoàn cảnh em khác. Thầy trầm ngâm: Cũng phải. Mỗi người theo đuổi một số phận. Câu hỏi của Hamlet “tồn tại hay không tồn tại” đặt ra với tất cả nhưng mỗi người tìm câu trả lời của riêng mình để tồn tại.

Có lần tâm sự, thầy bảo tôi: “Mình lỡ dở nhiều chuyện vì cứ loay hoay giữa chuyện lâu dài và trước mắt. Học hành dang dở thì kháng chiến, phải ra trận trước. Đánh giặc xong về đi học lại lo gấp rút nâng cao trình độ để làm việc và không quá kém so với các thầy nên phải lao vào học. Chưa đâu vào đâu lại kháng chiến chống Mỹ. Thành ra một vài việc định làm lại dang dở. Lúc ấy, ai cũng phải giải quyết những điều lớn lao hơn của cả nước mà mình lại cứ chăm chắm vào việc riêng thì khó coi quá”.

Tôi hỏi lại thầy, vừa để hỏi, vừa tìm hiểu thêm: “Thầy ơi, nhiều người vẫn kết hợp được cơ mà”. Thầy cười: “Nhiều người kết hợp được và còn giỏi nữa. Nhưng mình không có khả năng ấy”. Tôi hiểu ý thầy, càng trọng và thương thầy hơn. Một người bạn của thầy kể: Ông Khỏa sống như một anh Bộ đội Cụ Hồ, dĩ nhiên rồi. Nhưng làm khoa học cũng mang tinh thần ấy mới là một sự lạ. Miệt mài, chăm chỉ, húc đầu vào những thứ khó với một tâm niệm: Phải học bằng được, khó mấy cũng học, khổ mấy cũng vượt qua. Ông ấy bảo ở chiến trường không có gì quan trọng bằng chuyện vượt qua cái chết, chiến thắng thì trong công việc cũng phải thắng. Ở chiến trường khó thế còn vượt được thì trong công việc không có chuyện nguy hiểm, chỉ có khó khăn, cứ cố gắng là được. Những năm bao cấp khó khăn đủ bề, điều kiện sống thiếu thốn, thầy vẫn dành nhiều thời gian và công sức để nâng cao trình độ chuyên môn. Trong đám tang thầy, nghe người chị khóc “ăn uống kham khổ thế mà có đồng nào em cứ để dành mua sách, giá em bớt mua sách đi để bồi bổ thì có khi em chả đi sớm thế, em ơi”, chúng tôi không cầm được nước mắt. Thầy ra đi mấy chục năm rồi nhưng mỗi khi nhớ đến thầy, chúng tôi lại nhớ đến một nhân cách người lính.

PGS, TS PHẠM QUANG LONG