Chiến sĩ trinh sát tài hoa

Không cần nhìn văn bản, ông Lương Văn Bằng đã truyền cảm hứng cho biết bao người nghe bởi những câu chuyện vô cùng cảm động về Trung đoàn 98, Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Theo ông Bằng, Trung đoàn 98 có nhiều cái nhất so với các trung đoàn khác cùng ở Trường Sơn, như: Mở đường cho xe cơ giới sớm nhất và nhiều nhất ở Trường Sơn; thọc sâu và vươn xa nhất, từ đông Trường Sơn qua tây Trường Sơn, ở cả 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia; là đơn vị đầu tiên bắn rơi máy bay Mỹ tại Trường Sơn (chiếc AD-6 rơi ở đèo 200, tháng 5-1967), được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân năm 1973… Trung đoàn 98 cùng một lúc sử dụng 4 cái tên: Đơn vị 1260 Quân đội nhân dân Việt Nam, Đoàn Bình Minh, Chi hội Bình Minh của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Đoàn Trung Hiếu; 4 con dấu khác nhau để giao dịch công tác với Trung ương và các cơ quan dân-chính-đảng trên mọi miền đất nước Việt Nam; 4 loại tiền: Kíp (Lào), riel (Campuchia), tiền của chính quyền Sài Gòn, tiền Trường Sơn (do Đoàn 559 phát hành, tương tự Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, có giá trị như tiền miền Bắc, dùng giao dịch mua bán ở đông Trường Sơn. Lính ta đi ra miền Bắc, đến trạm giao liên cuối cùng của Trường Sơn thì đổi đồng tiền này lấy tiền miền Bắc)…

leftcenterrightdel
Ông Lương Văn Bằng (ngồi giữa) kể chuyện truyền thống Trung đoàn 98, Đoàn 559 tại buổi giao lưu văn hóa-nghệ thuật phường Việt Hưng (Long Biên, Hà Nội).

Người nghe vỗ tay rầm rầm. Được cử tọa hỏi về những khó khăn gian khổ và kỷ niệm sâu sắc ở Trường Sơn, ông hào hứng kể: “Năm 1965, tiêu chuẩn ăn của bộ đội Trung đoàn 98, từ trung đoàn trưởng, chính ủy đến chiến sĩ, đồng loạt như nhau, được khái quát là “hai cháo, một rau”. Sau, anh em tán ra là “hai thiếu, một no”. Tức là sáng 2 bát cháo, tối 2 bát cháo, trưa được ăn no. Nhưng bữa trưa chủ yếu là củ rừng và rau rừng như môn thục, tàu bay, hoa chuối, khoai môn… Một lần, anh Chu Minh Đông, Trung đoàn phó ra binh trạm họp, có hai chiến sĩ trinh sát đi cùng. Đường đi vất vả, phải trèo đèo vượt suối… Thiếu tá Phan Quang Tiệp, Trung đoàn trưởng và Thiếu tá Nguyễn Phú Hồng, Chính ủy trung đoàn đã nhường suất cháo buổi sáng của mình cho anh Đông và hai chiến sĩ trinh sát để 3 anh em có sức mà đi”.

Ngưng một lát trong niềm xúc động của mọi người, ông Bằng tiếp tục: “Dụng cụ mở đường chỉ là cuốc, xẻng, xà beng, choòng và búa. Không dùng mìn vì phải giữ bí mật. Lấy cây rừng, dây rừng làm cáng khiêng vật liệu và tạo những chiếc bừa để san mặt bằng. Vậy mà trong vòng 4 tháng đầu tiên, trung đoàn đã hoàn thành chặng đường dài 104km, kéo từ Đường 9 (Nam Lào) đến sông Bạc, rồi sau đó tiếp tục tạo đà mở rất nhiều tuyến khác. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Trường Sơn xẻ dọc, rọc ngang/ Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng/ Trường Sơn vượt núi, băng sông/ Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa!”.

Cứ như thế, người nghe như bị ông Bằng “hút hồn”. Nhiều người tỏ rõ niềm cảm phục ông-một thương binh hạng 2/4, nhiễm chất độc da cam/dioxin mức 2, đã vài lần “đại phẫu thuật” (phải cắt bỏ túi mật và một phần lá gan)... vậy mà qua 55 năm, vẫn kể mạch lạc về Trung đoàn 98 anh hùng như vậy!   

Cựu chiến binh Lương Văn Bằng sinh năm 1947, tại xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Mùa xuân 1965, ông nhập ngũ khi chưa học hết lớp 10, là chiến sĩ Trung đội Trinh sát thuộc Ban Tham mưu Trung đoàn 98 Công binh-biệt danh “Bình Minh” (nay là Công ty 98 thuộc Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn-Binh đoàn 12)-đứng chân ở mạn bắc sông Bạc. Nhờ nhanh nhẹn, tháo vát, sáng tạo và viết chữ rất đẹp nên đến cuối năm, ông được điều lên trung đoàn bộ để đi vẽ bản đồ cho những tuyến đường mà Trung đoàn 98 sẽ xây dựng. Trên đường trinh sát, đã 7 lần ông ở trong khu vực có bom, mìn của địch, thân thể đủ loại vết thương. Nhiều địa vật vừa được ông ghi dấu xong thì bom Mỹ rơi trúng, lại phải lóp ngóp “mô tả” lại, song ông không nản chí.

Tháng 10-1969, ở Tà Ngâu (biên giới Lào và Campuchia), tiểu đội ông Bằng đi lấy gạo gặp máy bay Mỹ oanh tạc. Ông bị một mảnh bom văng trúng bụng, phải điều trị ở Trạm phẫu Trung đoàn 98 hàng tháng trời. Từ đó trở đi, tuy sức lực giảm nhanh nhưng ông vẫn đam mê nhiệm vụ trinh sát, nhất là khi được thủ trưởng trung đoàn chỉ định cùng đi. Năm 1970, Lương Văn Bằng được kết nạp Đảng lớp “Đảng viên Hồ Chí Minh” đầu tiên tại Chi bộ Ban Tham mưu Trung đoàn 98 và bắt đầu những năm tháng hoạt động trên đường Trường Sơn với tinh thần của người cộng sản. Năm 1974, vết thương tái phát, ông được đưa ra điều trị tại Viện Quân y 108 (nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108). Khi sức khỏe hồi phục, ông được cấp trên điều động làm trợ lý Ban Chính sách Tổng cục Hậu cần…

Trên trận tuyến mới

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong quân ngũ, năm 2000, ông Bằng về nghỉ hưu tại Khu tập thể Khảo sát-Tổng cục Hậu cần (nay là tổ 12, phường Việt Hưng). Bà Đấu (vợ ông) đưa các con từ quê ra, ở tạm trong căn nhà cấp 4. Bà không thuộc diện hưu trí nhưng khỏe mạnh, khéo tay nên nhận gia công thảm đay-mặt hàng truyền thống của làng Ô Cách để lấy tiền nuôi con.

Một dạo, bà con ngõ phố không gặp ông ngoài đường, sang nhà hỏi thăm, thấy ông ngồi viết giữa la liệt các bằng khen, giấy khen đang chờ khô mực. Tay bút trứ danh Lương Văn Bằng khi còn công tác ở Tổng cục Hậu cần đã giúp các cơ quan nhà nước viết hàng vạn bằng khen, giấy khen, huân chương, huy chương các loại, giờ đây vẫn còn được một số cơ quan trọng dụng. Họ thích nét bút “có hồn” của ông nên thuê ông viết bằng khen, giấy khen. Ông thì vẫn là do đam mê cái đẹp mà nhận viết, chứ thù lao đôi khi chỉ là chén nước trà… Có vị thủ trưởng cảm ơn ông bằng chai rượu ngoại quý và lọ thuốc bổ. Ông chỉ nhận lọ thuốc, vì nội tạng của ông bây giờ “không thích rượu” nữa!

Nghỉ hưu được ít lâu, ông Bằng làm Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi tổ 12, Phó chủ tịch Hội Người cao tuổi phường Việt Hưng. Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin quận Long Biên, là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin TP Hà Nội. Vốn nhạy cảm với đời sống tâm lý của lớp người đã qua bậc “lục thập nhĩ thuận”, ông vận động người cao tuổi sống vui, sống khỏe, góp phần xây dựng địa phương giàu đẹp, văn minh. Ông giới thiệu “việc tử tế” trong khu dân cư với các nhà báo để nhân rộng. Với việc tang hiếu, ông tổ chức rất bài bản, chu đáo, nghĩa tình. Có những cụ già đã gặp ông, bày tỏ nguyện vọng khi “hai năm mươi” được ông đọc lời điếu để an tâm về cõi vĩnh hằng trong sự trang trọng, ấm áp tình đời!

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG