Sài Gòn mới hơn 320 năm tuổi, chẳng thấm tháp gì so với Thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Thế nhưng, Sài Gòn vẫn có những nét riêng, chỉ với cách gọi “anh Hai Sài Gòn” gắn liền với chặng đường lịch sử hình thành, phát triển vùng đất nghĩa tình này, đã chứa đựng nhiều giả thuyết đầy thú vị. Mỗi giả thuyết một góc nhìn riêng, nhưng nó đều được chấp nhận, bởi sự phản ánh mang giá trị nhân văn.

Sách “Văn hóa Nam Bộ” đã viết: Ở Nam Bộ chỉ gọi “anh Hai”, “chị Hai” chứ không gọi “anh Cả”, “chị Cả” như miền Bắc. Ðây là một hiện tượng văn hóa có thể lý giải từ phương pháp tiếp cận liên ngành: Ngôn ngữ học, khoa học lịch sử, văn hóa dân gian… Theo chiều dài lịch sử, cách gọi này có nguồn gốc từ nguyên tắc “tứ bất” (bốn không) của triều Nguyễn: “Bất thiết Tể tướng, bất thủ Trạng nguyên, bất lập Hoàng hậu, bất phong Ðông cung”; nghĩa là các vua triều Nguyễn không đặt chức Tể tướng, không lấy đỗ Trạng nguyên, không lập Hoàng hậu và không phong Ðông cung Thái tử. Trong đó, việc không lập Hoàng hậu và Ðông cung Thái tử vì cho rằng vua Gia Long vì tiếc thương người vợ là Tống Thị Lan và con trai cả là Nguyễn Phúc Cảnh nên dành vị trí này để tưởng nhớ người đã mất. Từ đó trong dân gian không ai dám gọi con đầu lòng là con cả.

Thế nhưng, trong chiều dài lịch sử, Sài Gòn đã có từ hơn 320 năm, còn thời vua Gia Long (1802-1820) mới chỉ cách đây hơn 200 năm, nên giả thuyết này còn nhiều bàn thảo.

Trở lại thời chúa Tiên, Nguyễn Hoàng cùng với binh sĩ, tùy tùng và nhân dân ở một số địa phương miền Bắc vào khai phá vùng đất phương Nam, có thể giả thuyết cách gọi “anh Hai” xuất phát từ thời kỳ này. Sử sách ghi rằng, trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì xác định công cuộc khai khẩn  này vô cùng gian khổ, thậm chí “sinh ly, tử biệt” nên các gia đình phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên. Những người ra đi đều là con thứ, kể cả Nguyễn Hoàng cũng là con trai thứ. Vì cuộc mưu sinh trên vùng đất mới, vì muốn thoát khỏi sự trói buộc của luật lệ phong kiến khắt khe, họ phải ra đi nhưng trong lòng vẫn canh cánh nhớ về quê cha đất tổ, nhớ về người anh Cả ở lại gánh vác công việc gia đình. Bởi vậy, khi sinh ra đứa con đầu lòng, họ không gọi là “anh Cả”, “chị Cả” mà gọi là “anh Hai”, “chị Hai” để tránh “phạm húy” với người anh cả của mình ở quê nhà.

Đồng thuận với giả thuyết này, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Phó tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, cho rằng: Ngoài những cách hiểu trên còn có một cách lý giải nữa là, trong làng quê Nam Bộ xưa có ông Cả (Hương Cả) là người đứng đầu, vì vậy trong các gia đình chỉ có người thứ hai, không ai dám gọi con đầu lòng là cả để tỏ ý kính trọng ông Hương Cả. Thế nhưng, xét về đặc trưng tính cách thì, khi vùng đất Nam Bộ được hình thành, Sài Gòn là trung tâm mang đầy đủ nét riêng văn hóa của Nam Bộ, nhất là tính cộng đồng, năng động, sôi nổi, hào hoa, trượng nghĩa, phóng khoáng, không bon chen… Đây là những tính cách khá “hướng ngoại” của người dân Nam Bộ mà “anh Hai Sài Gòn” là đại diện…

Dù cách hiểu khác nhau, nhưng tựu trung, “anh Hai Sài Gòn” vẫn là một nét đặc trưng riêng có của người Sài Gòn. Cách gọi rất nhẹ nhàng, ấm áp, thể hiện đầy đủ tính cách của người phương Nam, đồng thời biểu thị tình cảm và sự quý mến của người gọi đối với “anh Hai Sài Gòn”.

PHƯƠNG ANH