Ông Lống về rồi, đồn trưởng liền giao nhiệm vụ cho chiến sĩ Vũ Văn An từ sáng mai, mỗi ngày xuống bản dạy chữ cho ông Lống hai tiếng đồng hồ. Chiến sĩ An gãi tai: “Em không học sư phạm tiểu học, dạy làm sao đây?”. “Sư phạm tiểu học là dạy chữ trẻ con. Đây là dạy chữ cho người lớn tuổi, chỉ cần đơn giản, dể hiểu, dễ nhớ. Làm sao ông Lống đọc thông viết thạo là được”. Chiến sĩ An nghe ra liền vui vẻ chấp hành.

Sau một đêm nhớ lại thời đi học lớp một, chiến sĩ Vũ Văn An đã tự tin xuống bản Nà Cưm dạy chữ cho ông Phù A Lống.

Bài học đầu tiên sáng ấy là thuộc mặt 4 chữ cái A, B, C, Đ. Sau khi viết đi viết lại để ông Lống nhớ từng mặt chữ, “thầy An” lấy ví dụ cho “trò Lống” dễ nhớ: “A để viết chữ anh, B để viết chữ bố, C để viết chữ cuốc, Đ để viết chữ đất”. Ông Lống thích lắm, bảo “bố nhớ rồi”. “Thầy An” rất vui, dặn ông Lống về phải ôn bài và lấy thêm ví dụ.

leftcenterrightdel
Minh họa: LÊ ANH

Sáng hôm sau, trước khi học chữ mới, “thầy An” kiểm tra chữ đã học: “Bây giờ con đọc từng chữ, đọc đến đâu bố lấy ví dụ đến đấy bố nhé”. “Trò Lống” đồng ý. Thầy bắt đầu xướng rất to: “A”. Lập tức “trò Lống” nói to: “A, mẹ về”. Thầy khen: “Đúng quá!”. Thầy xướng tiếp: “B”. Trò nói luôn: “Bố Lống”. Thầy suýt phì cười, lại khen: “Rất đúng”, rồi đọc tiếp: “C”. Trò trả lời như hét: “Cô giáo”. Thầy reo: “Đúng rồi! Tiếp theo: “Đ”. “Trò Lống” cũng trả lời nhanh: “Đuổi vịt”. Thầy vỗ tay rôm rốp.

Mấy tuần sau, khi đã dạy cho ông Lống thuộc hết bảng chữ cái, chiến sĩ Vũ Văn An liền xếp ngẫu nhiên một số chữ cái lên bảng rồi yêu cầu ông Lống tìm những từ có các chữ cái đầu tiên của từ đó. Dãy chữ cái ấy là B, Đ, A, V, N, C, GI, S, T, M, X, TR, KH, Đ… Nghĩ một lúc, ông Lống đọc to tướng: “Bộ đội An vào nhà cô giáo Sùng Thị Mí xin tre không được”. Ối giời, lời “trò Lống” khiến “thầy An” sững sờ trong giây lát, rồi thầy túa ra tràng cười phát ho sặc sụa. Vừa cười, thầy vừa chắp hai tay: “Con lạy bố! Sao cái gì bố cũng biết thế?”.

Hóa ra tháng trước, đồn cần hai cây tre thẳng để chôn cột bóng chuyền. Chiến sĩ An vì muốn có cơ hội xuống bản gặp cô giáo Sùng Thị Mí-người mà anh đang muốn tìm hiểu-liền xung phong xuống bản xin tre ngay. Đến nhà cô giáo Mí, An hồ hởi nói chuyện cả buổi chiều. Nào là hỏi chuyện chi đoàn giáo viên hoạt động ra sao, nào là Mí thích những bài hát nào để anh tìm cho. Rồi An dặn cô giáo Mí khi nào nhà trường phát động làm bích báo, anh sẽ viết thơ giúp. Anh còn đọc cho Mí nghe những câu thơ anh đã từng viết: Nà Cưm ngôi bản đẹp xinh/ Gái-trai, già-trẻ đồng tình dựng xây/ Đồn biên phòng đóng gần đây/ Tình quân dân cứ mỗi ngày keo sơn.

Mải nói chuyện, trời chiều lúc nào không biết. Khi đó, chiến sĩ Vũ Văn An mới vội ngỏ lời xin hai cây tre về cho đồn làm cột bóng chuyền. Ai ngờ nghe anh xin tre, cô giáo Mí phá lên cười khanh khách: “Anh nhìn xem, cả khu đồi nhà em có cây tre nào đâu?”. Chuyến ấy trở về đồn, An đã bị phê bình vì không hoàn thành nhiệm vụ. Ai ngờ ông Lống cũng biết.

Truyện vui của HẠNH NGUYỄN