Là cơ hội bởi sự giao lưu, hội nhập mạnh mẽ sẽ là động lực thay đổi những cái cũ kỹ và nảy mầm những cái mới mẻ, sáng tạo. Là thách thức vì có cả gió lành, gió độc tràn vào, nhất là những “cơn gió văn hóa” phản tiến bộ, phản nhân văn. Đây là thời điểm cần một bản lĩnh văn hóa của đảng cầm quyền ở bất cứ nước nào. Với nước ta, thực tiễn chứng minh với tài năng, kinh nghiệm và sự ủng hộ cao của nhân dân, Đảng là người gánh vác trọng trách giải quyết tốt nhất những mâu thuẫn trên. Dưới đây xin đóng góp một vài giải pháp về sự lãnh đạo của Đảng với văn học-nghệ thuật (VHNT) trong tình hình mới.

Một là, tăng cường giáo dục lý tưởng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân ở tầng lớp văn nghệ sĩ.

Đang có một hiện trạng cần điều chỉnh là chúng ta quan tâm tới đào tạo tài năng nghệ thuật mà còn coi nhẹ tới giáo dục đạo đức về ý thức công dân. Cho nên công việc cấp thiết, trước mắt và thường xuyên, lâu dài phải làm là tăng cường bồi dưỡng, giáo dục ý thức tư tưởng chính trị cho văn nghệ sĩ. Thực tế dễ thấy ở các trường, các đơn vị nghệ thuật thì các buổi học nghị quyết, các đợt sinh hoạt chính trị… chỉ là hình thức. Người ta quan niệm phiến diện, cực đoan rằng chuyên môn mới là quyết định mà quên một điều là làm nên nhân cách nghệ sĩ đích thực phải có sự kết hợp của ý thức chính trị và tài năng nghiệp vụ. Quy luật của nghệ thuật là quy luật của tình cảm. Có ý thức chính trị cao mới tạo tiền đề cho sự nảy nở mạnh mẽ hơn của tình yêu, tâm huyết-vốn được coi là những điều sống còn của nghệ thuật. Cây nghệ thuật có tươi mát, có xum xuê hoa trái là nhờ được trồng trên mảnh đất của tình yêu. Thiếu tình yêu, nghệ thuật nhất định khô héo. Tình yêu luôn tìm đến tình yêu. Người nghệ sĩ có yêu nghệ thuật hết lòng, có đam mê phục vụ công chúng đến cháy bỏng thì tự nhiên sẽ được tình yêu của công chúng đáp lại. Tình yêu và tài năng như hai cánh tay trong một cơ thể nghệ thuật. Mất tình yêu tức là sự báo hiệu thui chột, què cụt một tài năng. Tình yêu không tự nhiên có mà phải do cả một quá trình giáo dục, rèn luyện.

leftcenterrightdel
Ảnh minh họa:dangkithuonghieu.org

Nghệ sĩ làm giàu cho văn hóa dân tộc bằng tác phẩm nghệ thuật-vốn là sự kết tinh từ tài năng và nhân cách của họ. Do vậy, công việc bồi dưỡng giáo dục nhân cách văn hóa cho nghệ sĩ là cực kỳ quan trọng. Vì lẽ này mà sinh thời, Bác Hồ rất chú trọng vấn đề chủ thể sáng tạo và thường xuyên nhắc nhở các nghệ sĩ phải luôn cố gắng “học chính trị”. Phẩm chất chính trị và tài năng như hai cánh của con chim nghệ sĩ, thiếu một cánh, chim không thể bay, một cánh yếu, một cánh khỏe chim cũng không thể bay được xa.  

Nghệ thuật là lĩnh vực của cái riêng, độc đáo, với cá tính sáng tạo và lý tưởng thẩm mỹ nhất định, nghệ sĩ phải tạo ra tiếng nói riêng, giọng điệu riêng. Như cái cần ăng-ten thu phát những tín hiệu đổi thay của cuộc sống, nghệ sĩ rất nhạy cảm trước những biến động xã hội. Nhưng không phải ai cũng có một sức đề kháng, một “bộ lọc” hoàn hảo để thu phát những tín hiệu tích cực, lành mạnh nên có người vô tình bị kẻ xấu lợi dụng mà trở thành cái loa tuyên truyền, gieo rắc những mầm mống tiêu cực. Là “món ăn tinh thần” không thể thiếu, nhưng trong thời buổi tiếp biến văn hóa mạnh mẽ hiện nay lại có món ăn văn nghệ, vì nhiều lý do cả chủ quan lẫn khách quan mà dễ bị và gây ngộ độc.      

Trong cấu trúc tư chất nghệ sĩ, điều trước hết cần có là giàu tình cảm, dễ xúc động. Trong khoa học, tình cảm nằm trong tiền đề sáng tạo thì trong nghệ thuật, tình cảm nằm ngay trong thành phần sáng tạo. Nghệ thuật không thể tầm thường đã đành, nghệ thuật phải trên mức thông thường là như vậy. Tài năng nghệ thuật luôn là hiếm hoi, không chỉ cần cù mà còn phải có năng khiếu. Hiếm cho nên quý. Do vậy, rất cần tạo ra một cơ chế riêng ưu đãi cho giới nghệ sĩ. Vì sống và sáng tạo bằng “cái tôi” nên cũng rất cần tạo ra một môi trường “cái tôi” đặc thù của nghệ sĩ phát triển lành mạnh. Nhưng cũng là một công dân, nghệ sĩ vẫn phải ý thức được trách nhiệm công dân của mình là sáng tạo theo tinh thần phụng sự cách mạng, phụng sự nhân dân, chống lại cái ác, cái xấu, cái lỗi thời, cái phản động.

Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh về VHNT và cũng rất đúng với bản chất nghệ thuật, việc giáo dục lý tưởng cho văn nghệ sĩ nên tập trung xoáy sâu vào 3 vấn đề trọng tâm: 1-Tình yêu văn hóa truyền thống; 2-Niềm quý trọng nhân dân; 3-Niềm tin vào Đảng, cách mạng và tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Từ vấn đề 1 cho thấy nên đưa văn hóa truyền thống vào chương trình giảng dạy bắt buộc ở các trường văn hóa-nghệ thuật. Vì theo lẽ tự nhiên, có thấu hiểu mới thấu cảm, mới yêu và say mê. Giải quyết vấn đề 2 thì biện pháp tốt nhất là tăng cường đưa văn nghệ sĩ (đi thực tế) về với nhân dân, sống đời sống của nhân dân. Có gần gũi mới hiểu để yêu thương, quý trọng. Vấn đề 3 là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền. Mỗi cán bộ lãnh đạo là tấm gương soi trong sáng nhất. Mỗi nghị quyết, chỉ thị của Đảng được thực thi một cách triệt để nhất. Như sự kiện cả nước đoàn kết chống dịch Covid-19 thời gian qua là sự thuyết phục cao nhất với văn nghệ sĩ vốn rất nhạy cảm với chính trị.

Hai là, đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh “gốc có vững, cây mới bền”, không chỉ chăm sóc “cây xanh” văn nghệ sĩ mà nhìn sâu xa hơn là chiến lược chăm sóc, bồi dưỡng thế hệ trẻ-sẽ vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng nghệ thuật. Là chủ thể bởi họ là những người thay thế lớp văn nghệ sĩ hôm nay. Là đối tượng, cố nhiên là như vậy. Thế nên cần sớm có chiến lược bồi dưỡng “công chúng nghệ thuật”, mà quan trọng nhất là sự hiểu biết về văn hóa-nghệ thuật truyền thống. 

Tư tưởng Hồ Chí Minh rất coi trọng truyền thống văn hóa dân tộc. Mục đích giáo dục ở nhà trường phổ thông hướng tới phải là xây dựng nhân cách văn hóa. Chú ý đến việc dạy người trước rồi mới dạy chữ. Cách dạy nhồi nhét kiến thức hiện nay vừa phản khoa học, vừa phản văn hóa, vì nó bắt các em làm người lớn quá sớm, vất vả quá sớm, khôn quá sớm so với độ tuổi cần được chơi nhiều hơn học. Tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh liệt kê chỉ riêng học sinh lớp 1 năm nay phải “đội trên đầu” 40 quyển sách giáo khoa cả sách chính khóa lẫn sách tham khảo.

Dạy người tức là bồi dưỡng một tư cách công dân, nhưng ở nhà trường, môn Giáo dục công dân chưa được đánh giá đúng, bị coi là môn phụ, thậm chí giáo viên nào dạy cũng được. Văn hóa ngấm rất sâu, biểu hiện rất tinh tế ở nghệ thuật truyền thống. Rất cần thiết đưa những nét đẹp của văn hóa dân gian vào giảng dạy ở các cấp phổ thông. Bớt đi những kiến thức khoa học tự nhiên cao siêu, xa xôi hay văn học nước ngoài (thực ra là văn học dịch) lạ lẫm, để thay vào đó là những áng văn chương dân gian, trò chơi dân gian là hồn cốt dân tộc nói về đạo hiếu, đạo nghĩa của người Việt, của con người nói chung thì hay và thực tế biết bao!

Ba là, tăng cường đấu tranh trực diện với các tác phẩm phản động, không né tránh.

Những “tác phẩm” được coi là “có vấn đề” lại thu hút lượng lớn bạn đọc. Điều này cho thấy, ở một bộ phận độc giả coi việc thỏa mãn tính hiếu kỳ, tò mò hơn là việc tiếp nhận tri thức, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm. Nếu chúng ta “lờ” đi, tự nhiên tạo ra một khoảng trống để tư tưởng xấu “chiếm lĩnh” độc giả. Do vậy, phải tổ chức đấu tranh với từng đối tượng một, vạch rõ cái sai trái, cái thâm độc của từng hình tượng, chi tiết.

Cần có sự mời gọi đối thoại từ nhiều ý kiến, quan điểm trên nhiều diễn đàn như hội thảo, tọa đàm, báo chí (nói, viết, trực tuyến...), tranh luận, phản biện, phản hồi nhiều luồng quan niệm, quan điểm. Những cái phản động, tiêu cực, sai lầm, vô tình hay cố ý… sẽ được làm rõ. Có như vậy mới bảo đảm tính khoa học, dân chủ. Trên tinh thần xây dựng, bằng sự hiểu biết, tính chất bình đẳng, lắng nghe và tôn trọng sự khác biệt, có thể khác biệt về quan điểm, tình cảm để tránh sự quy chụp, miệt thị, phỉ báng. Vì đối tượng hướng đến không chỉ là các “nhà văn” phản động mà chủ yếu là độc giả-những công dân Việt Nam. Phải làm rõ sự nguy hiểm, phản động, hằn học một cách cụ thể, thuyết phục bằng sự phân tích tỉnh táo, thấu lý đạt tình. Phải chỉ ra một cách rõ ràng những thủ thuật ngụy biện, những mánh khóe nào được vận dụng để nhằm mục đích xấu…

Bốn là, tăng cường hơn nữa việc sáng tạo, tuyên truyền, quảng bá, phân tích, giải thích quan điểm về văn hóa văn nghệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta.

Cho đến tận hôm nay, cả thế giới vẫn đang tiếp tục nghiên cứu di sản văn hóa, tư tưởng của Bác, nhất là ở các nước châu Mỹ, châu Phi. Người ta tìm thấy ở tư tưởng Hồ Chí Minh những ý tưởng quý báu để kiến tạo mẫu con người văn hóa trong kỷ nguyên đối thoại toàn cầu. Gần đây, nhiều hồi ký, tác phẩm văn học, phim ảnh… ở nước ngoài sáng tác về Bác có giá trị, cảm động, chân thành mà sâu sắc, và cũng rất thật, tinh tế về con người Hồ Chí Minh. Chúng ta mới dịch được rất ít và lượng in cũng không lớn. Ở trong nước, có nhiều nhà thơ, nhà văn viết về Bác nhưng không đông đảo. Do vậy, cần tiếp tục có những cuộc vận động sáng tác về Bác Hồ một cách rộng rãi và quy mô hơn nữa. Bởi hình tượng Hồ Chí Minh luôn mang tầm thời đại với tư tưởng và nghệ thuật lớn để sáng tạo đến không cùng.

Tại sao hình tượng Đảng ta hôm nay lại mờ nhạt trong VHNT, trong khi đó, trước năm 1975, hình tượng này lại là trung tâm? Bên cạnh cuộc vận động, sáng tác, quảng bá về Bác Hồ, cần có cuộc vận động, sáng tác, quảng bá về Đảng, về hình tượng người đảng viên trong hoàn cảnh mới... không chỉ nói về cái tích cực, cái tương lai mà cả về cái bất cập, hạn chế, cái sai lầm, khuyết điểm cần sửa chữa để Đảng lớn mạnh, cường tráng, trong sáng hơn.

Bài học của các nước phát triển nhanh kinh tế mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống là tăng cường sức đề kháng nội sinh. Với nước ta, để làm lành mạnh, khỏe khoắn “cơ thể văn hóa” thì biện pháp tốt nhất là hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh. Những thành công lớn lao của đất nước đã chứng minh đường lối của Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam là hoàn toàn đúng đắn. Ngày nay, dưới ánh sáng của triết học văn hóa, của tinh thần đối thoại văn hóa toàn cầu, hệ tư tưởng Hồ Chí Minh càng lung linh tỏa ra những ánh sáng nhân văn mới mẻ, hiện đại, hết sức thời sự. Thực tế chứng minh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được sự ủng hộ cao của toàn xã hội... Cần lan tỏa sâu rộng hơn nữa, đưa việc học Bác vào mọi tầng lớp nhân dân như một lẽ sống tự nhiên thường ngày. Bác Hồ là nhà cách mạng thực tiễn, nhà triết học thực hành, Bác sống ở trong dân, không ở trên dân, theo đúng tư tưởng Bác Hồ thì “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Là cán bộ, đảng viên, đoàn viên học theo Bác, nhất là học tính liêm chính của Người thì dân sẽ tin và không một tư tưởng phản động nào, dù được ngụy trang bằng thứ nghệ thuật cao siêu nào có thể lung lay được.

Là sự kết tinh các tư tưởng lớn, là tinh hoa của văn hóa Đông-Tây, truyền thống, cổ điển và cách tân, hiện đại, mới mẻ nên thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh tự nhiên sẽ tạo nên một sức đề kháng tốt để mỗi con người vượt lên những trở ngại, trở lực, vươn tới những lý tưởng tốt đẹp.

PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ