Những tháng ngày hiến dâng thanh xuân trên tuyến đường mạch máu huyền thoại, tinh thần quyết chiến quyết thắng thuở ấy như vẫn còn cháy bỏng trong từng câu chữ, trong ánh mắt rực sáng... của Bộ đội Trường Sơn.

Người của “mạch máu” thông tin

Đại tá Tạ Chu, nguyên chiến sĩ Tiểu đoàn 14 Phòng không, Sư đoàn 312, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Thái Nguyên, nay đã 78 tuổi. Vậy mà mỗi lần kể chuyện ở Trường Sơn, ánh mắt ông lại sáng lên như thuở đôi mươi: “Chắc chẳng có ai cảm ơn một dãy núi đâu nhỉ, nhưng tôi thì có đấy. Tôi cảm ơn Trường Sơn vì nó không chỉ là một dãy núi mà còn là một điểm tựa vĩ đại của dân tộc; là thanh xuân đáng giá và tự hào của thế hệ chúng tôi”.

leftcenterrightdel
Đại tá Tạ Chu (bên trái) - người tặng cuốn sổ “Nhật ký chiến sĩ Tiểu đoàn Phòng không” bản viết tay để trưng bày tại Nhà truyền thống Trường THPT Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên).

Nhắc chuyện xưa, có những giọt nước rịn ướt nơi khóe mắt, nhưng nụ cười luôn thường trực trên môi. Cầm trên tay cuốn “Nhật ký chiến sĩ Tiểu đoàn Phòng không” dày 250 trang, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân ấn hành năm 2014 của tác giả là Tạ Chu, chúng tôi chợt hiểu vì sao thời gian không thể bào mòn ký ức trong ông. Bởi quá khứ vẫn luôn ở đây, trong khối óc, trái tim và hiện hữu trên từng con chữ.

Nhập ngũ tháng 7-1963, biên chế ở Đại đội 13, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312, sau hai tháng huấn luyện chiến sĩ mới, ông Chu được điều về Tiểu đoàn Thông tin (Tiểu đoàn 16) đào tạo báo vụ (vô tuyến điện). Hơn một năm sau (9-12-1964) thì nhận lệnh cùng Tổ đài 15W bổ sung cho Tiểu đoàn 14 Pháo cao xạ hành quân vào Quân khu 4 chiến đấu.

Khi vào đến căn cứ, tiểu đoàn được giao nhiệm vụ phục kích, tiêu diệt máy bay Mỹ trinh sát, đánh phá các trọng điểm dọc Đường 8A (từ Hà Tĩnh sang Lào). Đó là những ngày mà “một ngày có 8 phiên việc, ngoài ra còn phải gọi đài canh để phát điện khẩn cấp. Có phiên kéo dài tới 4 giờ đồng hồ. Đã thế, trời nắng nóng, mồ hôi cứ chảy ròng ròng. Lâu rồi không được tắm, mồ hôi ra ngứa tợn”... “Tiểu đoàn quy định chỗ đặt đài, ăn, ngủ, sinh hoạt của tổ đài, chúng tôi thường phải xa bộ phận chỉ huy để bảo đảm an toàn. Ban ngày thì đỡ, ban đêm nhiều khi sởn gai ốc mỗi khi có tiếng động bất ngờ do thú rừng gây ra, cứ tưởng là biệt kích, thổ phỉ, thám báo. Bẩn ơi là bẩn, bọ, ve rừng cắn khắp người, ngứa ơi là ngứa!” (“Nhật ký chiến sĩ Tiểu đoàn Phòng không”).

Là báo vụ viên, Tạ Chu cùng tổ đài chịu trách nhiệm nhận, chuyển thông tin từ các đơn vị: Bộ Quốc phòng, Bộ tư lệnh Quân khu 4, Đoàn 559, Sư đoàn 312 đến tiểu đoàn và ngược lại. Cùng một nội dung nhưng có nhiều ký hiệu, mã số khác nhau, mỗi ngày sử dụng một mã. Thu nhận xong thì đưa cơ yếu dịch chuyển cho chỉ huy. Điện phát đi cơ yếu lại dịch ra ký hiệu chuyển cho báo vụ. Thu tin thì dễ vì cấp trên dùng máy công suất lớn (50W, 100W), nhưng khi phát thì khó hơn vì máy của tiểu đoàn chỉ 15W. Trong hoàn cảnh núi rừng hiểm trở, máy bay trinh sát điện tử của địch lại quần thảo, thả bom liên tục, tiểu đoàn phải đào hầm để lấy chỗ làm việc bảo vệ điện đài. Mỗi lần muốn chuyển tin báo phải giăng ăng-ten dài 32m, trên độ cao ít nhất 8m mới phát sóng được. Phát xong phải thu dây ngay. Nhiều lần đang liên lạc, thấy máy bay trinh sát địch theo dõi, ông nhanh trí báo tín hiệu xin ngừng liên lạc, tránh bị lộ... Ông dí dỏm bảo: “Cũng bị bom nhiều lần, đài điện hư hỏng nhiều lần, nhưng bom đạn như thể đã tránh mình. Đài điện hư sửa xong lại làm việc như thường”. 

Càng ngày cuộc chiến càng ác liệt, Mỹ điên cuồng đánh phá các trọng điểm đường Trường Sơn, đánh nống ra miền Bắc; việc chi viện ngày càng khó khăn. Mùa mưa năm 1968, trước tình hình khan hiếm lương thực cung cấp cho bộ đội và tiền phương, Trung tá Nguyễn Đức Phương, Binh trạm phó Binh trạm 37 (Bộ tư lệnh 559) được cấp trên phân công nhiệm vụ, đã vào vai tư sản Việt kiều ở Campuchia đi thu mua lương thực của thương nhân, nhân dân vùng Hạ Lào, Campuchia cung cấp về kho của ta. Các lực lượng bộ đội ở quanh vùng Hạ Lào được huy động đóng vai cu-li đến đó để bốc dỡ hàng thuê cho “ông chủ” Phương, nhưng mục đích là để lấy lương thực về. Trong quá trình làm việc, thi thoảng bộ đội ta bị ông Phương đá, quật roi vào người (đánh thật nhưng ai cũng biết là giả). Mỗi người được phân tải 25kg, đi và về đến binh trạm mất hơn nửa tháng, chỉ còn khoảng 15kg vì vừa đi vừa nấu ăn. Ông Tạ Chu kể: “Bình thường quy chuẩn mỗi người được 5 lạng gạo/ngày. Khi Trung tá Nguyễn Đức Phương thu mua được nhiều thì được ăn no hơn, tối đa mỗi người được 1kg/ngày. Nhưng số ngày được vậy vô cùng ít ỏi, đa phần là chịu đói, dành để chi viện cho tuyến trong”.

Đại tá Tạ Chu vẫn còn nhớ mãi những ngày đầu năm 1973, khi ấy, tiểu đoàn di chuyển vào khu vực miền Đông Nam Bộ ở Lộc Ninh, Bình Long (nay là Bình Phước). Lúc này, ông chuyển sang chỉ huy chiến đấu ở trận địa pháo cao xạ. Đói nhiều, ông và đồng đội vào rừng lấy quả dâu da, kiếm măng lồ ô ăn trừ bữa. “Quả dâu da chua chua ngọt ngọt, măng luộc lên chấm muối nịnh miệng, nhưng ăn no được một lúc thì thấy cồn cào như “xé ruột”. Có dạo sang Campuchia mua được ít gạo nếp và đỗ xanh nấu độn, mỗi người chỉ được nửa bát một bữa. Nếu ăn phải những hạt đỗ nhọn thì tanh vô cùng. Nhổ đi thì tiếc, không nhổ thì không chịu được”-Đại tá Tạ Chu kể.

Chuyện của “phi công mặt đất”

Nhập ngũ cùng đợt, cùng chung đơn vị với Đại tá Tạ Chu, ông Lê Duy Vĩnh (hiện ở phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên) khi ấy là lái xe kéo pháo. Dù sức khỏe nay không được như các lão bạn đồng trang lứa nhưng hễ nói chuyện Trường Sơn thì cũng như người bạn già của mình, ông mải mê quên cả mệt.

Ông Lê Duy Vĩnh kể: “Thời đó, nếu lái xe chạy đủ 26 đêm/tháng, kê khai lên là được khen thưởng nhưng hiếm ai làm được lắm. Mùa khô thì kéo pháo, cơ động trên các trận địa, nhưng mùa mưa lại làm nhiệm vụ vận tải (chở hàng, vận chuyển xăng dầu, gạo, thực phẩm...). Đường quân sự thường làm gấp nên rất xấu, đèn gầm, đèn mui rùa soi trước 5m, chạy suốt cả đêm chỉ được 80km. Lái xe phải mặc áo giáp, vừa bí vừa nóng, đường xóc khiến lưng, mông loét hết da. Ngoài những vật dụng như súng ống, đạn dược, quân tư trang... thứ mà cánh lái xe không thể thiếu là... giẻ khô. Vì xe hay phải qua ngầm, qua suối, nước vào bộ chia điện, không có giẻ khô lau thì nguy lắm. Cứ đêm chạy, ngày nghỉ; sáng sớm sau khi chuyển pháo cho các khẩu đội xong thường phải cho xe di chuyển ra khỏi trận địa khoảng 2-3km để cất giấu. Việc xóa dấu vết mất nhiều thời gian và cũng phải tùy theo địa hình mà ngụy trang. Có chỗ thì dùng lá xanh, những đoạn trơ trụi thì phải tìm cây khô, lệch màu ngụy trang cái là “chết chùm” ngay”.

Ở thời chiến, con người được rèn giũa trong hoàn cảnh khắc nghiệt để trưởng thành, thách thức có thể là... cái chết. Ông Lê Duy Vĩnh bồi hồi nhớ về khoảng thời gian được tôi luyện của mình: “Vì thuộc đối tượng xét kết nạp Đảng, tôi thường xuyên được cử di chuyển trận địa như một hình thức thử thách ý chí và bản lĩnh. Mỗi lần nhận lệnh điều động di chuyển là một lần ý chí thêm kiên gan. Dù biết gian khổ ác liệt, đi là chạy đua với đạn bom và có thể hy sinh bất cứ lúc nào nhưng lúc đó lý tưởng cách mạng, niềm tin với Đảng, hơn hết là danh dự của một quân nhân luôn thúc giục tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ”.

“Khó khăn, thiếu thốn nhiều nhưng cũng có lúc sướng lắm. Đấy là những khi săn được thú rừng, bữa ăn được cải thiện”-ông Vĩnh tiếp lời... Kỷ niệm in hằn trong tâm trí, là đêm 19-5-1968, ông đã bắn được con hươu rừng nặng gần 50kg. Làm thịt hươu xong, tiểu đội xe chỉ giữ lại một phần, còn lại sáng hôm sau, ông đem hết ra đại đội, đưa xuống bếp nuôi phục vụ pháo thủ. Khi ông được kết nạp Đảng, trong căn hầm sâu dưới lòng đất, đồng đội tặng một bó hoa rừng chúc mừng. Mọi thứ đơn sơ giản dị nhưng mỗi lần nhớ lại là một lần ông Vĩnh thấy tự hào, vui sướng biết bao bởi Trường Sơn thuở ấy gian khổ nhưng ấm áp tình đồng đội thiết thân như anh em một nhà.

Dấu tích vết sẹo dài chừng 10cm nơi bàn tay trái, hai chân bước đi tập tễnh, đấy là một “kỷ niệm Trường Sơn” nhớ đời. Tháng 5-1970, ông được điều động đi lấy đạn dược ở Đường 9, đến ngầm Tôm Ru (Binh trạm 33) thì bất ngờ bị máy bay thả đạn pháo ngay đầu xe. Một viên đạn xuyên qua cabin vào vô lăng, sượt qua bàn tay trái. Ông Vĩnh mở cửa định nhảy xuống thì phát hiện viên đạn đã xuyên xuống làm gãy xương đùi. Ông bảo, nếu chỉ cần thêm một chút ga, nhích tầm 20cm nữa, viên đạn đã xuyên vào vị trí khác (có thể là tim), thì giờ...

Kể chuyện về những tháng ngày trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, tinh thần quyết chiến quyết thắng như vẫn còn cháy bỏng trong từng câu chữ, trong ánh mắt của họ. Rời trận tuyến, người về với nhà máy, ruộng đồng, người tiếp tục chặng đường binh nghiệp, người lại chuyển ngành học y-dược, cuộc sống của họ bình dị và thanh sạch, vẫn giữ tác phong nhanh nhẹn, sự hào hoa, hồn hậu. Trường Sơn như “lửa thử vàng”, hun đúc nên cốt cách để những người lính dù ở mặt trận nào cũng sống đẹp, sống vẹn tròn mọi lẽ với cuộc đời mình. Tuổi trẻ của họ là hành trình của tình yêu đất nước, của niềm tin chiến thắng. Trường Sơn vẫn luôn ở đây, rất gần trong nhịp đập trái tim mỗi người!

Bài và ảnh: LÊ ĐÌNH