Giáo dục và đào tạo phải là quốc sách

Phóng viên (PV): Thưa ông, thời gian vừa qua giáo dục đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng đã thật sự trở thành một động lực then chốt cho phát triển kinh tế-xã hội hay chưa?

Ông Phan Thanh Bình: Trong báo cáo văn kiện chính thức của đại hội có đánh giá cả mặt làm được và chưa làm được. 7 năm qua chúng ta đã đưa những quan điểm mới, những khái niệm mới vào trong giáo dục. Đó là điểm lớn đã làm được.

Từ vấn đề hoàn thiện hệ thống đến giáo dục phát triển năng lực, vấn đề chất lượng và tự chủ đối với bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp. Từ đó, các cơ quan chức năng đã ban hành Khung trình độ 8 bậc để có thể liên thông từ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

leftcenterrightdel
Ông Phan Thanh Bình. Ảnh: TRỌNG HẢI 

Đây là những vấn đề mà chúng ta đã đặt nền tảng ban đầu và cũng đã có những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong văn kiện có đề cập đến nội dung, đó là: Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo trong thời gian vừa qua vẫn chưa thật sự trở thành một động lực then chốt cho phát triển kinh tế-xã hội. Đấy là câu chốt lại và tôi nghĩ câu chốt đó đặt ra nhiều vấn đề cho giáo dục của chúng ta.

Do vậy, trong dự thảo văn kiện Đại hội XIII cũng đặt ra là phải đột phá trong nội dung này. Cụ thể là khẳng định cho được vấn đề giáo dục và đào tạo không chỉ là chủ trương mà phải là hành động và quốc sách.

Bên cạnh đó gắn giáo dục và đào tạo với khoa học và công nghệ để sáng tạo, với mục tiêu đào tạo con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu và sự phát triển công nghệ mạnh mẽ. Điều này góp phần phục vụ cho sự phát triển của đất nước mà chúng ta có những khát vọng rất lớn ở từ năm 2025 để vượt qua được mức thu nhập trung bình thấp, sau đó phát triển tốt hơn.

PV: Để giáo dục thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, điều quan trọng cần thực hiện trước tiên là gì thưa ông?

Ông Phan Thanh Bình: Hai văn kiện chính trị và kinh tế-xã hội tại đại hội đã nói rất kỹ về vấn đề này. Đó là cái nhìn dài hạn không chỉ trong giai đoạn 5 năm, 10 năm, mà còn là tầm nhìn tới năm 2030. Những sự chuẩn bị đó khá cụ thể và chi tiết.

Theo tôi, điều quan trọng là thay đổi về nhận thức của cả hệ thống về công tác giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo thời gian tới đóng vai trò rất quan trọng. Phải coi giáo dục là cơ hội đối với Việt Nam, vì trong tương lai, sự cạnh tranh chính là trí tuệ, bằng năng lực chứ không phải nguồn năng lượng, nguồn tài nguyên thiên nhiên hay nguồn lao động giá rẻ.

Cùng với đó là vấn đề về quản lý nhà nước. Phải tính toán lại sao cho giáo dục bám sát theo nghị quyết của Đảng, hệ thống quy định luật pháp và quản lý nhà nước. Tôi không đồng tình với suy nghĩ Việt Nam không có triết lý giáo dục. Mỗi người có một định nghĩa, nhưng nếu để ý kỹ thì trong Luật Giáo dục đã nói rất rõ, đó là giáo dục Việt Nam phải có tính dân tộc, nhân dân, khoa học và hiện đại. Tinh thần đó phải được thể hiện ra sao trong toàn bộ chương trình giáo dục.

Chúng ta dạy học sinh đứng lên bằng năng lực chứ không phải là kiến thức và chúng ta quan tâm đến sự phát triển của từng cá thể một, thì bây giờ những vấn đề này sẽ được triển khai như thế nào. Đây là những quan điểm thuộc về lĩnh vực quản lý.

Còn một điều mà ít người nhắc tới, đó là trong Luật Giáo dục mới quy định giáo dục tiểu học là bắt buộc chứ không chỉ dừng ở phổ cập. Điều đó thay đổi cách nhìn của xã hội, đặt ra hàng loạt vấn đề bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm đối với học sinh và gia đình, cũng như sức ép đối với công tác quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, giáo dục phổ thông là dân chủ chứ không phải tự chủ, giáo dục đại học mới là tự chủ. Hệ thống quản lý nhà nước cần cụ thể hóa vấn đề này.

Vấn đề đội ngũ cũng cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc, vì đây là những con người đào tạo ra con người. Do đó, người thầy phải được chuẩn bị một cách nghiêm túc cả về tri thức và đạo đức. Hiện tại, chúng ta cũng đang đặt ra vấn đề về số lượng và chất lượng giáo viên.

Một vấn đề nữa là cần tính toán lại sự đầu tư cho giáo dục như thế nào. Tôi nhấn mạnh về trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục và đào tạo chứ không phải đưa giáo dục ra ngoài xã hội và gọi đó là tự chủ mà ta nói rằng Nhà nước tạo môi trường cho giáo dục và đào tạo phát triển, trong đó có vai trò của Nhà nước và vai trò đóng góp của xã hội.

Giải phóng năng lượng đại học

PV: Phát triển giáo dục là 1 trong 3 đột phá chiến lược của dự thảo văn kiện, xin ông có thể nói rõ hơn về điều này trong thời gian tới?

Ông Phan Thanh Bình: Dự thảo văn kiện vẫn giữ nguyên 3 mũi đột phá, đó là về thể chế, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, lần này vấn đề giáo dục và đào tạo được chú trọng vào nguồn nhân lực. Ở trong văn kiện đặt ra vấn đề là phải đào tạo cho được những con người Việt Nam trong một giai đoạn mới.

Với mục tiêu này, văn kiện đặt ra nhiều vấn đề; trong đó có việc chúng ta phải đổi mới trong quản lý Nhà nước và quản trị đồng thời đặt ra hàng loạt các chính sách mà các cơ quan chức năng phải ban hành để làm sao đẩy được giáo dục đi lên.

Bên cạnh đó, dự thảo văn kiện cũng đặt ra những vấn đề mà ngay bản thân ngành giáo dục cũng phải đổi mới quản trị để bảo đảm chất lượng và cả những vấn đề tự chủ, trách nhiệm giải trình... để thành động lực phát triển cho thời gian tới.

Cuối cùng, trong văn kiện có nêu về trách nhiệm Nhà nước phải tiếp tục đầu tư và đầu tư tốt hơn cho giáo dục và đào tạo.

PV: Thưa ông, liên quan trực tiếp đến đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục đại học cần làm gì để phát huy hết năng lực?

Ông Phan Thanh Bình: Cần phải nhìn lại 4 cấp giáo dục, mỗi cấp có một vai trò, vị trí quan trọng. Giáo dục mầm non rất quan trọng, tạo ra nền tảng thể chất và con người. Giáo dục phổ thông tạo ra nền tảng để làm công dân. Giáo dục nghề nghiệp là nguồn nhân lực để chúng ta phát triển kinh tế-xã hội. Ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực nghề nghiệp rất quan trọng. Hiện nay, đội ngũ này của Việt Nam không nhiều. Còn giáo dục đại học là đội ngũ tinh hoa, làm nòng cốt cho phát triển.

Hiện nay, đối với giáo dục đại học, chúng ta cần làm sao để giải phóng năng lượng đại học. Đó chính là sự tự chủ. Bên trên cũng khá dè dặt khi buông vì chưa biết buông như thế nào, còn bên dưới, khi được nhận thì chỉ nghĩ là được nhận gì mà chưa nghĩ trách nghiệm của mình là gì.

Vấn đề thứ hai là cơ sở giáo dục đại học: Mô hình cơ sở giáo dục đại học sẽ hoạt động như thế nào; khi được giao quyền tự chủ thì cơ chế giám sát ra sao? Nên hội đồng trường cần phải được thành lập, và hiệu trưởng phải trở thành một ông CEO của trường đại học. Hội đồng trường quyết định định hướng chiến lược, định ra chiến lược hoạt động phát triển. Mô hình này chúng ta phải xây dựng cho được.

Vấn đề thứ ba, là được giao quyền tự chủ, cơ sở giáo dục đại học phải có trách nhiệm giải trình; trách nghiệm giải trình luôn luôn đi cùng tự chủ. Với trách nhiệm giải trình, cơ sở giáo dục đại học cần nói rõ trách nhiệm đối với người học như thế nào, đối với giáo viên ra sao, đối với xã hội thế nào? Đây là một vấn đề rất mới, chúng ta cần có thời gian. Nên nhớ rằng, hiện nay một số trường của Việt Nam đã được xếp hạng của thế giới, nghĩa là chúng ta đi dần vào các quy luật chung, thông lệ chung trong phát triển của thế giới.

 PV: Trân trọng cảm ơn ông!

THU HÀ (thực hiện)