Thỏa thuận cuối cùng

Riêng về địa điểm trao trả Pryor sẽ diễn ra ở điểm kiểm soát Charlie trên phố Friedrich, đồng thời với việc trao đổi Abel - Powers trên cầu Gliennicke.

Trước đó, Powers đã từ nhà tù Vladimir về Moscow bằng tàu hỏa, cùng một viên đại tá của nhà tù Vladimir. Tối thứ sáu, ngày 9-2, Powers lên đường từ Moscow tới Berlin bằng một chiếc máy bay vận tải quân sự và được đưa tới một nhà khách của KGB ở đông Berlin. Trong thời gian chờ đợi, anh ta chơi cờ vua với người phiên dịch của mình.

leftcenterrightdel
Sinh viên Pryor được trao trả ở cửa khẩu Charlie quay về khu vực do Mỹ kiểm soát ở tây Berlin. Ảnh: Tạp chí Quốc phòng JD

Cũng trong chiều thứ sáu, ngày 9-2-1962, Tổng chưởng lý Đông Đức ký lệnh tha Pryor.

Người điệp viên vượt đại dương

Ở New York, vào lúc 2 giờ 15 phút sáng ngày 9-2-1962 (theo giờ Mỹ), hai chiếc xe hơi tới khách sạn Henry Hudson đón những người khách ngụ tại đây rồi đi về phía nam, tới trụ sở Cục Trại giam liên bang. Hai chiếc xe đỗ lại bên ngoài trên phố 11. Lát sau, một người đàn ông gầy gò vận bộ đồ màu nâu, đeo kính râm bước ra cùng với người phụ trách nhà tù. Ông ta mang theo hai cái cặp bằng vải. Phó giám đốc phụ trách nhà tù F.Wilkinson ra khỏi ô tô, bước tới đón người đàn ông. Đấy là Đại tá Abel.

Sẽ có 4 người đồng hành trong chuyến đi là Abel, N.Aldredge, F.Wilkinson và một nhân viên CIA. N.Aldredge mang theo còng tay, một khẩu súng ngắn và đạn, còn F.Wilkinson mang theo các giấy tờ phóng thích đã ký đầy đủ. Abel vào ngồi trên chiếc xe đầu tiên, bị kẹp giữa N.Aldredge và F.Wilkinson. Người điệp viên CIA ngồi trên ghế trước. N.Aldredge cẩn thận tháo đạn ra khỏi khẩu súng ngắn cho vào trong túi, đề phòng khả năng Abel đoạt mất súng.

Hai chiếc xe vượt qua đường hầm Holland bên dưới sông Hudson, qua New Jersey, tới sân bay quân sự nằm trong căn cứ McGuire. Vào lúc 5 giờ 20 phút sáng, cả 4 người cùng lên chiếc C-118 Constellation có 8 chỗ ngồi. 40 phút sau, máy bay cất cánh.

Do sự chênh lệch múi giờ giữa hai bán cầu nên chiếc máy bay chở Abel và những người cùng đi đáp xuống sân bay Tempelhof ở tây Berlin vào lúc 12 giờ 45 phút trưa thứ sáu, ngày 9-2-1962. Xe đã chờ sẵn và “gói hàng” được chuyển tới một buồng giam trong căn cứ quân sự Andrews của Mỹ ở tây Berlin.

Sáng sớm thứ bảy, ngày 10-2-1962, J.Donovan gặp Abel trong vòng nửa giờ tại buồng giam Abel nằm sâu dưới lòng đất trong căn cứ quân sự Andrews của Mỹ ở tây Berlin. Trong phiên tòa diễn ra trước đó 5 năm, J.Donovan đã làm hết sức để bảo vệ quyền lợi pháp lý cho thân chủ của mình. Nay thì có vẻ như vụ việc đã đi đến hồi kết thúc theo cái cách mà không ai có thể ngờ được. Hai người ôn lại những chuyện cũ. J.Donovan gọi người điệp viên là “Rudolf”, còn Abel thì sau khi thân mật chào “Jim” lúc gặp mặt, luôn gọi vị luật sư Mỹ là “ngài Donovan”.

Khi viên luật sư đề cập đến cuộc trao đổi, Đại tá Abel nói mình biết về vụ viên phi công gián điệp Powers, nhưng chưa bao giờ biết đến anh sinh viên Pryor. Cả I.Schischkin nữa, Abel cũng chưa nghe thấy bao giờ.

Gần đến giờ phải rời đi, Abel cảm ơn J.Donovan đã hết sức nỗ lực trong phiên tòa xử mình, hứa sẽ gửi cho viên luật sư một số bản sách cổ quý hiếm để ông bổ sung vào bộ sưu tập của mình.

Một dãy xe đã chờ sẵn bên ngoài. J.Donovan ngồi xe đầu cùng với Allan Lightner, người đứng đầu phái bộ Mỹ tại tây Berlin. Abel ở xe thứ hai, ngồi giữa F.Wilkinson và một nhân viên an ninh lực lưỡng của quân đội Mỹ; N.Aldredge ngồi xe thứ ba cùng với Jim Murphy, cựu sĩ quan của đơn vị do thám tối mật 10-10 tại Adana, Thổ Nhĩ Kỳ, vừa mới bay tới để giúp nhận diện Powers khi cuộc trao đổi diễn ra trên cầu Gliennicke.

Chiến dịch đặc biệt

Khi đoàn xe của Mỹ ra khỏi căn cứ quân sự Andrews thì một đoàn xe của KGB cũng đang trên đường từ khu vực do Liên Xô kiểm soát ở phía nam Berlin, hướng tới cầu Gliennicke từ ngả Potsdam. Đấy là một chặng đường khá dài. Powers ngồi phía sau trong chiếc Warburg cùng với viên đại tá từ nhà tù Vladimir. Khoảng 7 rưỡi sáng, khi đoàn xe tới Potsdam, I.Schischkin bất ngờ xuất hiện và lên xe. Viên Trưởng trạm KGB tại đông Berlin chỉ dẫn tỉ mỉ và đoàn xe tiếp tục hướng về phía cầu Gliennicke.

8 giờ sáng, luật sư W.Vogel tới nhà tù Hohenschonhausen và nói với Pryor, khi ấy hoàn toàn vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, rằng anh ta được phóng thích. Pryor cuống cuồng thu xếp hành trang rồi theo W.Vogel ra chiếc Mercedes mà viên luật sư mới mượn của một người bạn. Hai người không đi tới cầu Gliennicke mà tới Trạm kiểm soát Charlie, nơi có thể đi qua bức tường, từ đông sang tây Berlin. Ở phía bên kia trạm kiểm soát, cha mẹ của Pryor đã chờ sẵn.

Hai chiếc trong đoàn xe chở Abel tới chỗ cách cầu Gliennicke khoảng 60m thì dừng lại. Những chiếc khác tản ra bên ngoài tầm quan sát của những người Xô-viết phía bên kia cầu. Hôm ấy, hầu hết cảnh sát Tây Đức canh gác ở khu vực cầu được cho nghỉ phép, thay thế bằng quân cảnh Mỹ.

Phi công Powers được một nhóm cảnh sát vũ trang đưa từ Potsdam tới một địa điểm gần với cây cầu, nhưng ngoài tầm quan sát của phía Mỹ. Powers mang theo một chiếc va ly và một tấm thảm nhỏ cuộn tròn mà anh ta đã bện trong thời gian ở tù.

Tại điểm kiểm soát biên giới bên phía Xô-viết, một sĩ quan thuộc Trung đoàn 105 phổ biến cho các tay súng máy bố trí ở đây các chi tiết của cuộc trao đổi, đồng thời ra lệnh sẵn sàng hành động nếu có biến.

leftcenterrightdel
Tổng thống Mỹ J.Kennedy (bên trái) cảm ơn luật sư J.Donovan vì đã giúp đỡ thực hiện vụ trao đổi Abel lấy Powers.

Phía Đông Đức cũng bố trí một đơn vị đặc biệt tham gia vào chiến dịch gồm 20 nhân viên được trang bị súng máy và lựu đạn để bảo đảm xử lý tình huống trong trường hợp cuộc trao đổi điệp viên diễn ra không suôn sẻ.

Tất cả các nhân viên vũ trang tham gia vào chiến dịch này được lệnh phải ẩn kín tối đa, không để lộ hình tích cho phía Mỹ quan sát được.

Hoàn tất

Lúc 8 giờ 15 phút sáng 10-2, những người tham gia cuộc trao đổi gián điệp đồng loạt bước ra khỏi xe ô tô và tiến về phía rào chắn của mỗi bên ở hai đầu cầu Gliennicke. Đúng 8 giờ 20 phút, 3 người của mỗi bên tách ra khỏi nhóm của mình và tiến về phía vạch sơn chia đôi ở giữa cầu. Bên phía Mỹ có J.Donovan, Murphy và Lightner; nhóm Liên Xô do I.Schischkin dẫn đầu, trong đó có “cậu Drews” - điệp viên KGB Y.Drozdov. Sau 4 năm dưới vỏ bọc, giờ đây Y.Drozdov có thể tự hào là nhiệm vụ đưa Abel về nhà sắp sửa hoàn thành.

Cách vạch sơn một quãng, hai nhóm dừng lại, để J.Donovan và I.Schischkin tiến lên, bắt tay nhau ngang qua vạch sơn chia ranh giới đôi bên. Sau đó, những người còn lại tiến lại gần, tự giới thiệu và nói chuyện phiếm vài câu.

Theo dấu hiệu của những người đứng giữa cầu, nhóm thứ hai tách ra khỏi đám đông đứng ở mỗi đầu cầu đi về phía vạch sơn phân chia đôi bên. Abel đi ở giữa, tay xách chiếc va ly của mình, một bên là F.Wilkinson, bên kia là người lính quân cảnh lực lưỡng. Trông ông xanh xao trong chiếc áo khoác nhà tù màu xanh xám, trên đầu đội chiếc mũ lưỡi trai bé xíu. Nhóm bên kia có Powers, trông có vẻ khỏe mạnh, đi giữa viên đại tá từ nhà tù Vladimir và một điệp viên KGB tên là Pryzov.

Tới vạch sơn giữa cầu rộng chừng hơn 10cm, Pryzov tiến qua vạch sơn và đề nghị Abel bỏ kính râm ra; người điệp viên Xô-viết làm theo. Pryzov quay lại nói với I.Schischkin rằng, đó đúng là người điệp viên cần trao đổi. Trong khi đó thì Murphy tiến hành nhận dạng Powers. Vừa mới gặp mặt ở giữa cầu, Murphy đã không nghi ngờ gì rằng người đàn ông trong bộ áo khoác Nga rộng thùng thình này chính là người phi công trẻ mà anh ta đã có lần gặp tại quầy căng tin ở căn cứ Paradise trên sa mạc Nevada nhiều năm trước đây. Nhưng Murphy vẫn muốn đảm bảo chắc chắn rằng, KGB đã không đánh tráo một người giống hệt F.Powers cho cuộc trao đổi nên nêu vài câu hỏi kiểm tra. Trước câu hỏi hãy nói tên người giáo viên dạy môn bóng đá Mỹ ở trường trung học phổ thông, Powers không nhớ, nhưng đến khi hỏi tên con chó của Powers thì anh ta nhớ ngay. Vậy là đúng người rồi.

Nhưng cuộc trao đổi chưa diễn ra. Trước đó, hai bên đã thỏa thuận rằng chỉ tiến hành trao đổi Abel và Powers một khi Pryor được trao trả ở điểm kiểm soát Charlie. Do một sự trục trặc nào đó mà cuộc phóng thích Pryor về cho cha mẹ anh ta đã bị đình hoãn lại mà không ai biết lý do cụ thể là gì.

Cuối cùng thì vào lúc 8 giờ 50 phút sáng, ở cửa khẩu Charlie trên bức tường phân đôi Berlin, anh sinh viên Pryor bước qua vạch sơn đi vào khu vực do người Mỹ kiểm soát, nơi người cha, nhà công nghiệp Millard Pryor đang chờ sẵn để ôm anh ta trong vòng tay của mình.

Một nhân viên điện đài ngồi trong chiếc xe Jeep gần đó gọi điện về trạm kiểm soát ở cầu Gliennicke. Sinh viên Pryor đã được phóng thích. Đến lúc thực hiện điệp vụ trên cầu Gliennicke rồi. I.Schischkin nói to: “Giấy tờ, giấy tờ”, ý muốn nói tới lệnh phóng thích của Tổng thống J.Kennedy.

Quỳ trên một đầu gối, F.Wilkinson đặt tờ giấy lên đầu gối kia, rút bút ra rồi viết: “Phóng thích ngày 10-2-1962 vào lúc 8 giờ 52 phút sáng. Cầu Gliennicke”, ký tên rồi trao nó cho Abel.      

Trong khi đó, viên đại tá từ nhà tù Vladimir trao cho Powers một hộp đồ lưu niệm đã mua ở Moscow bằng chính khoản tiền mà viên phi công có được trong nhà tù Xô-viết.

Abel nhận tờ giấy phóng thích từ tay F.Wilkinson, cho nó vào chiếc va ly rồi đưa tay vẫy chào viên luật sư: “Tạm biệt, Jim” - ông nói. “Chúc may mắn, Rudolf”-viên luật sư trả lời.

Theo sự ra hiệu của I.Schischkin và J.Donovan, từ hai phía, Abel và Powers bước về phía vạch sơn. Hai người đàn ông nhìn thẳng về phía trước, từ từ lướt qua nhau và bước qua vạch sơn ngăn cách giữa hai thế giới, trở về với người của mình. Cuộc hò hẹn trên cầu giữa hai người lạ diễn ra suôn sẻ. Điệp vụ trao đổi điệp viên đầu tiên trong lịch sử Chiến tranh Lạnh trên cầu Gliennicke đã hoàn tất.

YÊN BA (tổng hợp)