“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” (Hồ Chí Minh). Bất cứ thời kỳ nào, cán bộ cũng vẫn là cái gốc của chính sự. Nhưng yêu cầu cụ thể của từng thời kỳ lại rất khác nhau. Đổi mới công tác cán bộ lại là việc vô cùng khó khăn, phải bắt đầu từ việc cơ bản, từ nền tảng, từ gốc, đó là đổi mới công tác đào tạo.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế tri thức là lý do khách quan đòi hỏi phải đổi mới công tác đào tạo cán bộ. Cuộc cách mạng này mang lại cả cơ hội và thách thức khó lường, chúng ta phải quyết tâm đổi mới tư duy và hành động trong đào tạo cán bộ, coi đó là giải pháp đột phá để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế, mau chóng đạt tiêu chuẩn một nước công nghiệp hiện đại trong tương lai gần, đồng thời xây dựng nền quốc phòng chính quy, hiện đại, bảo đảm vững chắc chủ quyền quốc gia và thành tựu của cách mạng. Đổi mới công tác đào tạo cán bộ, do vậy, đang là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của Đảng, Nhà nước ta nói chung.

Hội thảo về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức năm 2020 do Học viện Cán bộ và quản lý đô thị (AMC) và Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức – Bộ Nội vụ tổ chức. Ảnh: baoxaydung.com.vn.

Thực trạng của công tác đào tạo cán bộ

Trong thời gian qua, công tác đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ở nước ta tuy đã có những chuyển biến tích cực, trường lớp giảng dạy chính quy, giảng dạy tại chức, giảng dạy từ xa đã mở ra rất nhiều, số lượng người được đào tạo tăng lên rõ rệt nhưng chất lượng thì còn rất nhiều bất cập.

Rất buồn là có những khuyết điểm trong đào tạo, bồi dưỡng mà đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ từ năm 1947 nhưng cho tới nay chúng ta vẫn mắc phải. “Thí dụ: Huấn luyện cho cán bộ trong các cơ quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được... Huấn luyện lý luận cho những cán bộ cao cấp... làm không đúng, lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy theo cách học thuộc lòng...” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, 1995, tr.269-270).

Theo thống kê của Bộ Nội vụ, trong giai đoạn 2011-2015, cả nước tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cho hơn 3.230.000 lượt cán bộ, công chức, trong đó khối các bộ, ngành có hơn 889.000 lượt người và khối các tỉnh, thành phố là 2.344.000 lượt người. Trong tổng số 3.230.000 lượt người nói trên, có 456.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị; 489.000 lượt người được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ. So với giai đoạn 2006-2010, số lượng cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn này tăng khoảng 24% ở khối các bộ, ngành và tăng 42% ở khối các tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, chất lượng quản lý nhà nước và dịch vụ công vẫn còn thấp, môi trường phát triển kinh tế-xã hội và môi trường đầu tư vẫn chưa được cải thiện nhiều.

Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2017 do Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố cho thấy, mặc dù điểm của Việt Nam tăng nhẹ trong hai năm liên tiếp (2016-2017), song mới chỉ đạt 35/100 điểm và xếp thứ 107/180 quốc gia, vùng lãnh thổ. Theo đó, vấn đề tham nhũng trong khu vực công ở Việt Nam vẫn được đánh giá rất nghiêm trọng. Theo báo cáo chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) qua các năm, một bộ phận người dân cho biết họ vẫn phải chi “lót tay” cho công chức để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất...

Thực trạng nói trên phần nào cho thấy, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay vẫn chưa đem lại hiệu quả như mong đợi, chưa thực sự là một nơi làm công việc gốc để nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân lực thực thi công vụ. Cơ quan, tổ chức nào cũng nói đổi mới nhưng thực chất trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý đào tạo vẫn chưa đổi mới tư duy, chưa chú trọng thiết kế chương trình, nội dung đào tạo gắn với yêu cầu phát triển năng lực theo chức danh, địa chỉ việc làm nên công tác đào tạo thời gian qua chưa hướng đến xây dựng năng lực cho người học nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc thực thi công vụ.

Hiện nay, trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chủ yếu vẫn là đào tạo, bồi dưỡng theo chức nghiệp, nhằm giúp cho học viên nhận được văn bằng, chứng chỉ đáp ứng về mặt hành chính tiêu chuẩn ngạch, bậc của cán bộ, công chức chứ chưa chú trọng trang bị kiến thức và kỹ năng để cán bộ, công chức thực hiện tốt hơn công việc và nhiệm vụ được giao. Tình trạng văn bằng thật nhưng học lấy lệ, học mà không có năng lực tương xứng với học hàm, học vị vẫn còn không ít.

Trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các loại hình dịch vụ cần được cá nhân hóa, chủ động để thích ứng với từng đối tượng, trong khi đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ta vẫn tồn tại tư duy đào tạo, bồi dưỡng đại trà cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Việc phân tầng, phân loại kiến thức, kỹ năng cho từng nhóm đối tượng chưa được chú ý đúng mức và sự dàn trải về nội dung làm giảm hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng. Việc đánh giá tác động của đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức ít được chú ý, dẫn đến thiếu cơ sở thực tiễn để đổi mới chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Bởi vậy, nảy sinh “vòng luẩn quẩn” là, đào tạo, bồi dưỡng chưa hiệu quả dẫn đến năng lực làm việc của cán bộ, công chức không được cải thiện, sức ép về đào tạo, bồi dưỡng lại càng tăng lên, nhưng đào tạo, bồi dưỡng lại tiếp tục không đáp ứng được yêu cầu, khiến cho việc nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức càng gặp trở ngại, khó khăn...

Chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn lạc hậu, chưa có sự phân biệt rõ nội dung đào tạo, bồi dưỡng theo đối tượng, vẫn nặng về lý thuyết, xem nhẹ kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng; còn trùng lặp nhiều nội dung giữa các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; chưa bổ sung những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, công chức. Chính vì vậy, có tình trạng không ít cán bộ, công chức tham gia nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng, nhưng vẫn thiếu kiến thức, thiếu kỹ năng làm việc, bởi lẽ chưa được học đúng kiến thức, chưa được lĩnh hội đủ kỹ năng.

Mấy khuyến nghị về giải pháp đổi mới

Một là, về nhận thức:

- Giáo dục không phải đào tạo ra những người có học vị, học hàm để thăng quan phát tài mà nhất thiết phải là sự nghiệp trồng người.

Những người cán bộ tốt trước hết phải là một người làm tròn bổn phận công dân, hơn thế còn phải là một người công dân gương mẫu. Cán bộ tốt là cái vốn quý nhất của cách mạng, mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy: “Các cơ quan cần phải rất chú ý đến việc huấn luyện cán bộ. Phải lựa chọn rất cẩn thận những nhân viên phụ trách việc huấn luyện đó” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, 1995, tr.273).

- Chương trình, kế hoạch, nội dung giáo dục phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế.

Giáo dục-đào tạo không có mục đích tự thân và không thể tự thân phát triển, nó phải gắn với kinh tế và phục vụ cho phát triển kinh tế. “Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được. Nếu kinh tế không phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được. Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 8, 1996, tr.138).

- Khắc phục nạn kinh doanh giáo dục, mở trường lung tung, đang tựa như là “dịch mở trường” đang làm hoen ố danh dự ngành giáo dục, làm hại uy tín người thầy và làm hại cho sự nghiệp tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó thực sự là một nguy cơ chứ không thể coi thường.

Bác Hồ đã nói “dịch mở trường” nghĩa là “tham làm nhiều mà không chu đáo”: “Lớp quá đông. Đông quá thì dạy và học ít kết quả vì trình độ... của người học chênh lệch... chương trình không sát. Mở lớp lung tung. Hiện đang có một cái “dịch” mở trường. Ví dụ: Đã có trường Đoàn thể rồi lại có trường Dân vận, rồi trường Nông vận, Phụ vận, Thanh vận, Công vận. Trường nào của Đoàn thể lại không dạy dân vận mà còn phải mở riêng?

Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng... Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đạp nước”, dạy không được chu đáo. Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”, người “bịt lỗ” năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh... Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang. Vậy phải làm thế nào?... Phải... mở lớp nào cho ra lớp ấy. Lựa chọn người dạy và người đến học cho cẩn thận. Đừng mở lớp lung tung” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 6, 1995, tr.52).

- Quán triệt quan điểm “Học để làm việc, lý luận đi liền với thực hành”.

Chương trình học phải trọng về môn đạo đức, phải tẩy sạch óc kiêu ngạo, tự phụ, học qua loa, quay cóp, mua bằng cấp, thói học hư danh.

- Xây dựng một xã hội học tập, “lấy tự học làm cốt”.

Tự học chính là hành trình khám phá, chinh phục những đỉnh cao mới. Hầu hết những người không thường xuyên tự học, tự cập nhật kiến thức chỉ bằng lòng với mảnh bằng đã có (dù là giáo sư, tiến sĩ khoa học) thì chỉ sau tối đa 5 năm, kiến thức gần như đã trở về “mo” (point mort trong tiếng Pháp). Trong lịch sử, ta thấy có rất nhiều tấm gương thành tài nhờ nỗ lực tự học như Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền, tiêu biểu chính là Ph.Ănghen và đặc biệt nhất là Hồ Chí Minh.

Hai là, về hành động:

- Chuyển từ bồi dưỡng kiến thức sang phát triển năng lực, phải buộc người học làm việc, động não, tự suy nghĩ để giải quyết các tình huống.

- Chuyển từ chỗ đại trà hóa thì nay cần tiến đến khu biệt hóa, cá nhân hóa. Việc xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải xuất phát từ nhu cầu công tác của từng đối tượng người học; phải điều tra, nghiên cứu xem họ đang thiếu gì, cần gì, tức là dạy cái người học đang cần chứ không phải dạy cái người thầy đang có.

- Chuyển từ “dạy” sang hướng dẫn; từ nghe và tiếp thu một cách thụ động sang tự học; chủ yếu là hướng dẫn, trao đổi thông tin, kinh nghiệm công tác, cùng nhau bàn bạc, thảo luận để tìm ra biện pháp giải quyết tối ưu một vấn đề nào đó đang được đặt ra. Giảng viên chỉ nên định hướng nội dung học tập, nghiên cứu, nêu vấn đề, hướng dẫn, gợi mở, đối thoại để rèn luyện phương pháp, kỹ năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống.

- Đổi mới đội ngũ giảng viên chuẩn hóa về cả bằng cấp lẫn năng lực thực tế, coi trọng khả năng dẫn dắt người học kết hợp lý luận với thực tiễn. Đội ngũ giảng viên cao cấp phải đúng là các chuyên gia về lĩnh vực họ giảng dạy, phải có khả năng cung cấp nhiều kiến thức chuyên sâu và những kinh nghiệm cho người học.

- Đổi mới phương tiện, ứng dụng công nghệ hiện đại trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến thông qua “lớp học ảo”, mô phỏng, số hóa bài giảng cần trở thành xu hướng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong tương lai gần.

- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Cần kết hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở trong nước và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở nước ngoài. Mời các chuyên gia, nhà quản lý ở những nước có nền hành chính phát triển trực tiếp giảng dạy cho đội ngũ cán bộ, công chức. Tổ chức cho cán bộ, công chức đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài sau khi được học tập các kiến thức ở trong nước, để họ có thể hình dung đầy đủ hơn về việc vận dụng các kiến thức vào thực tiễn nền hành chính nhà nước.

- Đổi mới công tác đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần tập trung vào đánh giá “đầu ra”. Đánh giá “đầu ra” của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng không chỉ là đánh giá học viên ngay sau khi kết thúc khóa học, dựa trên các chỉ số về năng lực, kiến thức, kỹ năng thực hành. Việc đánh giá mức độ sử dụng “đầu ra” chủ yếu dựa trên các chỉ số về kết quả giải quyết công việc, mức độ đáp ứng yêu cầu công việc của cán bộ, công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng.

PGS, TS TRẦN ĐÌNH HUỲNH