Nói như vậy, không phải ta đã quên những ngày gian khổ, hy sinh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong 75 năm qua để có ngày hôm nay, vui sướng vẹn tròn trên mọi miền đất nước. Tuyên ngôn “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước toàn thế giới đã nói lên ý chí sắt đá của toàn dân ta, đồng thời cũng cho thấy việc giành và giữ độc lập, tự do của dân tộc gian khổ, hy sinh to lớn đến như thế nào. Nhưng ngay cả trong những ngày gian khổ, hy sinh đó, người dân đã thấu hiểu được ý nghĩa của độc lập, tự do, hạnh phúc của công dân một nước Việt Nam độc lập. Người nhìn thấy niềm hạnh phúc, vui sướng ấy chính là lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh-“Người là niềm tin tất thắng!”.

leftcenterrightdel
Cử tri ngoại thành Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa I, ngày 6-1-1946. Ảnh tư liệu  

Ngay sau khi đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập” có ý nghĩa lịch sử, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh với tư cách là Chủ tịch lâm thời đã đề nghị Tổng tuyển cử càng sớm càng tốt. Trong điều kiện “giặc đói”, “giặc dốt” cùng thù trong, giặc ngoài như hùa nhau đe dọa nhà nước dân chủ cộng hòa non trẻ, đặt vấn đề tổng tuyển cử là căn cứ vào đâu? Có phù hợp không? Thật không dễ hiểu hết được. Các nhà cách mạng Việt Nam đánh giá khó khăn lúc bấy giờ là “ngàn cân treo sợi tóc”. Với cách nghĩ thông thường thì người dân đang đói và mù chữ, cần khoai, sắn, gạo, ngô, chắc gì đã cần quyền bầu cử! Những phần tử trong các đảng phái chống đối có thể lợi dụng cơ hội tổng tuyển cử mà chui vào cơ quan nhà nước non trẻ để chống phá thì sao? Bác chủ trương bầu cử tự do, phổ thông đầu phiếu. Công dân đủ 18 tuổi, đủ sức khỏe và các điều kiện dân sự có quyền đăng ký ứng cử tại một đơn vị bầu cử cụ thể.

Với tinh thần ấy, ngay tại Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử có tới 74 ứng cử viên để bầu chọn 6 đại biểu. Nhiều ứng cử viên như vậy nhưng cử tri Hà Nội vẫn đủ sáng suốt chọn ra 6 đại biểu xứng đáng. Thật vinh dự cho nhân dân Hà Nội là những người có lá phiếu bầu một đại biểu đặc biệt-Hồ Chí Minh-theo thể thức phổ thông đầu phiếu như mọi ứng cử viên khác. Hôm nay, điều đó có thể không còn đặc biệt nữa, nhưng những ngày đầu của Nhà nước Dân chủ Cộng hòa non trẻ thì đó là kỳ tích. Kẻ thù chống phá bầu cử khá quyết liệt. Nhân dân lần đầu tiên thực hiện quyền bầu cử trong sự đe dọa của “giặc đói”, “giặc dốt” và giặc ngoại xâm. Thực dân Pháp và cả những đội quân danh nghĩa đại diện cho đồng minh giải giáp quân phiệt Nhật cũng đang có những âm mưu đen tối không muốn Tổng tuyển cử thành công! Nhưng bầu cử diễn ra tốt đẹp.

Và sự thật, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ấy là một cuộc bầu cử tự do theo đúng quy định. (Khi ấy chưa có Quốc hội nên chưa có luật bầu cử, chỉ có quy định của Chính phủ lâm thời). Hồ Chí Minh là ứng cử viên mẫu mực tuân thủ thể lệ bầu cử. Khi được nhân dân yêu mến, tin tưởng đề nghị Hồ Chí Minh là đại biểu suốt đời, không cần ứng cử, Bác đã cảm ơn sự tín nhiệm của nhân dân và khẳng định: “... tôi không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ứng cử ở thành phố Hà Nội nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa”. Tinh thần thượng tôn pháp luật đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động ngay trong trường hợp cụ thể liên quan trực tiếp đến cá nhân với tư cách là ứng cử viên đại biểu Quốc hội đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phải chăng tấm gương sáng mẫu mực của người đứng đầu nền dân chủ cộng hòa non trẻ đã cổ vũ toàn dân ta chiến thắng hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Trên Báo Cứu quốc, tờ báo cách mạng hàng đầu lúc bấy giờ đăng rất nhiều bài về Tổng tuyển cử, trong đó có những bài do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là tác giả với những bút danh khác nhau. Bác viết: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”.

Ngày Tổng tuyển cử là ngày người dân thực sự là chủ nhân đất nước, dẫu còn mù chữ, dẫu còn đói rách, người dân chắc chắn hiểu điều đó, mơ ước điều đó sau những đêm trường nô lệ tối tăm. Hồ Chí Minh tin vào nhân dân của mình như tin vào chính mình, nguyện cả đời phụng sự cách mạng, phụng sự Tổ quốc, không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Và niềm tin ấy đã chiến thắng, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội đã thắng lợi và đi vào lịch sử như một mốc son chói lọi, để lại nhiều bài học có giá trị thời đại và có tính thời sự cho đến ngày nay.

Thứ nhất, tin vào nhân dân, tin vào cách mạng. Đây là yếu tố tiên quyết. Nhân dân ta dẫu còn đói nghèo, nhưng yêu nước nồng nàn, và khi đã “kết lại thành làn sóng thì vô cùng mạnh mẽ, cuốn phăng mọi trở lực, nhấn chìm mọi kẻ thù xâm lược”. Và “khó trăm lần dân liệu cũng xong”! Tin vào nhân dân là tin vào sức mạnh vô địch. Có được niềm tin của nhân dân là có tất cả. Bài học đó mãi mãi đúng với chúng ta, một cộng đồng được sinh ra từ “bọc đồng bào”. Cách mạng Việt Nam khởi nguồn trong gian khó. So sánh tương quan lực lượng với kẻ thù, những người bi quan có lúc ví như “châu chấu đá voi”. Nhưng thực tế sức mạnh cách mạng là ở chỗ vì nhân dân, vì độc lập, tự do của dân tộc có nền tảng truyền thống ngàn năm giữ nước và dựng nước. Sức mạnh ấy đã minh chứng bằng sự thật lịch sử đánh tan các thế lực ngoại xâm hùng mạnh trên thế giới, mạnh hơn ta nhiều lần. Có hai yếu tố tiên quyết: Nhân dân và cách mạng, chắc chắn mọi sự thành công. Ngày nay chúng ta có gần trăm triệu dân, đổi mới là cuộc cách mạng vì dân, vì nước nên đã thành công, chắc chắn sẽ còn thành công lớn hơn. Chống dịch Covid-19 như chống giặc đã kiểm chứng sức mạnh kỳ diệu của chúng ta. Việc chúng ta khống chế được dịch bệnh, là một trong những quốc gia có tăng trưởng kinh tế cao nhất trong khu vực và thế giới chính là nhờ vào sức mạnh đoàn kết toàn dân, nhờ vào truyền thống cách mạng của cả dân tộc.

Thứ hai, gương sáng người đứng đầu. Hồ Chí Minh-lãnh tụ vĩ đại của chúng ta là tấm gương sáng trong mọi chặng đường của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, sự kiện ngày 6-1-1946, ngày Tổng tuyển cử không chỉ khẳng định niềm tin Hồ Chí Minh là niềm tin có tính thời đại mà còn minh chứng tấm gương sáng ngời Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu và là người trong cuộc. Sự nghiệp đổi mới hôm nay tuy có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít thử thách cam go, đặc biệt là sự cám dỗ của bạc tiền và những viên đạn bọc đường khác, đòi hỏi người đứng đầu ở các cấp phải nêu gương sáng để mọi cán bộ, đảng viên noi theo. Nghị quyết của Đảng về trách nhiệm nêu gương được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh nhiều lần là Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng cần nêu gương trước để cán bộ, đảng viên làm theo chính là tinh thần học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh-gương sáng người đứng đầu!

Thứ ba, coi trọng tính chính danh theo thông lệ quốc tế. Đây là vấn đề có tính thời đại khi Việt Nam tuyên ngôn thành lập nước dân chủ, cộng hòa, một nhà nước đoạn tuyệt với chủ nghĩa phong kiến. Chính phủ nhà nước dân chủ, cộng hòa phải do dân bầu ra. Muốn vậy phải có tổng tuyển cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Nhà nước đó mới được các quốc gia trên thế giới công nhận và điều quan trọng hơn là mới chính danh đại diện cho nhân dân, mới đủ sức lãnh đạo toàn dân dựng nước và giữ nước. Thực tế lịch sử, Nhà nước ấy đã vượt muôn vàn gian khó để cùng toàn dân tiến hành trường kỳ kháng chiến để sau 9 năm làm một Điện Biên “chấn động địa cầu”!                    

Những ngày này, cả nước đang hướng về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với niềm tin và khát vọng về một tương lai tươi sáng. Một ngày vui sướng của toàn dân ta cách đây 75 năm như khơi dậy trong mỗi chúng ta hôm nay niềm hứng khởi bước vào năm đầu tiên của một giai đoạn phát triển mới với quyết tâm và sức mạnh của truyền thống và thời đại, đưa Việt Nam từng bước sánh vai cùng các nước phát triển trên thế giới.

TS NGUYỄN VIẾT CHỨC