Cách đây 17 năm, Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận đã khống chế thành công đại dịch SARS (28-4-2003). Trong kỳ công đó, giới khoa học ghi nhận đóng góp không nhỏ của GS, TSKH, Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân Lê Đăng Hà, nguyên Viện trưởng Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới (nay là Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương) - người đã nghĩ ra phương pháp chống dịch “kiểu Việt Nam”. Dưới đây là một số chia sẻ của ông về phương pháp chống dịch đó...

Người chỉ huy phải trực tiếp “đối mặt” với virus

“Chữa bệnh không thể chỉ đạo từ xa. Nếu lúc đó, người đứng ở vị trí cao nhất trong bệnh viện mà “sợ”, không dám đối mặt, không dám hy sinh, chỉ đạo chữa bệnh qua điện thoại thì không thể nào thắng được bệnh dịch” - Đó là chia sẻ của GS Lê Đăng Hà với báo chí sau khi khống chế thành công dịch SARS tại Việt Nam.

leftcenterrightdel
Vợ chồng Giáo sư Lê Đăng Hà

GS Lê Đăng Hà “nhận lệnh” của Bộ Y tế, trở thành chỉ huy trưởng công tác chống dịch vào ngày 12-3-2003. Lúc này, SARS đã trở thành một đại dịch uy hiếp hàng chục quốc gia trên thế giới, số lượng bệnh nhân tử vong tăng lên từng ngày. Ở Việt Nam, ca mắc SARS đầu tiên là thương nhân người Hoa, quốc tịch Mỹ tên là Chun Cheng, đến Việt Nam ngày 23-2-2003. Ngày 26-2-2003, ông Chun Cheng được đưa vào Bệnh viện Việt-Pháp điều trị với triệu chứng sốt cao, ho khan và đau cơ. Hai ngày sau, WHO cử bác sĩ Carlo Urbani đến khám cho Chun Cheng và ông đã báo cáo về căn bệnh viêm phổi không điển hình, nghi do virus lạ (bác sĩ Carlo Urbani sau đó cũng bị lây bệnh và mất rất nhanh vào ngày 12-3-2003). Sau khi ông Chun Cheng vào Bệnh viện Việt-Pháp thì đến ngày 8-3-2003, đã có 39 cán bộ y tế của bệnh viện nhiễm bệnh, trong đó có 5 người tử vong khiến bệnh viện này phải đóng cửa, không dám nhận bệnh nhân.

Cũng trong ngày 12-3-2003, Bộ Y tế chỉ thị chuyển toàn bộ bệnh nhân nhiễm virus lạ sang điều trị tại Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới thì WHO cũng chính thức cảnh báo toàn cầu về căn bệnh viêm đường hô hấp cấp nặng (SARS) do virus lạ có tốc độ lây lan rất mạnh và nhanh, tỷ lệ tử vong cao (ngày 27-3-2003, virus lạ mới chính thức được phát hiện là Coronavirus mới, thuộc họ Coronaviridae nhưng đã biến đổi gen so với Coronavirus thường gặp trước đó).

Tâm lý hoang mang từ Bệnh viện Việt-Pháp lan sang Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới, lại thêm áp lực phải khống chế dịch thành công vì cuối năm 2003, Việt Nam đăng cai SEA Games 22. Virus lạ là virus gì? Cơ chế lây nhiễm ra sao? Phác đồ điều trị thế nào? Hàng loạt câu hỏi đặt ra, GS Lê Đăng Hà quyết tâm “đối mặt” với dịch bệnh: “Khi tôi tập trung toàn bộ cán bộ, thầy thuốc, nhân viên của viện để phổ biến nhiệm vụ trên giao thì nhiều đồng nghiệp bên Bệnh viện Việt-Pháp đã tử vong, anh chị em rất lo lắng. Tôi động viên anh chị em và nói, ai “sợ” thì có thể viết đơn chuyển công tác. Nhưng rồi, không có ai xin chuyển cả. Cả viện quyết tâm đối mặt và chiến thắng dịch bệnh”.

Lấy thủ công thắng hiện đại

Việc đầu tiên là phải lo bảo vệ những bác sĩ, điều dưỡng viên trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, tránh để họ bị lây nhiễm. Qua nghiên cứu bệnh án, GS Lê Đăng Hà rất băn khoăn là một số người nhiễm mới không hề tiếp xúc với người mắc bệnh SARS, vậy họ lây qua đường nào?

Điều tra “hành trình” những người nhiễm mới thấy họ đều liên quan đến Bệnh viện Việt-Pháp, họ đến bệnh viện khi các bệnh nhân SARS đã chuyển đi nhưng họ ở trong phòng có máy điều hòa nhiệt độ, nhiệt độ mát trong phòng giúp virus trú ngụ và gây ra những ca lây nhiễm mới. Dự đoán con đường lây nhiễm này, GS Hà quyết định các buồng bệnh nhân SARS phải được làm sạch không khí. Muốn thế phải có máy thông khí áp lực âm. Nhưng mỗi chiếc máy đó trị giá hàng trăm triệu đồng, viện không có kinh phí để mua và có mua cũng mất thời gian. GS Lê Đăng Hà đã đưa ra quyết định đầu tiên là các phòng bệnh nhân SARS không được đóng kín cửa, mà phải luôn mở toang cửa sổ đón không khí sạch, không dùng điều hòa mà dùng quạt máy để thổi virus ra ngoài trời cho ánh nắng mặt trời tiêu diệt.

Việc tiếp theo là lo khẩu trang và quần áo phòng hộ cho các bác sĩ, điều dưỡng viên trực tiếp điều trị. Khẩu trang chuyên dụng không có thì đeo hai lớp khẩu trang giấy. Quần áo phòng hộ chưa có thì mặc blouse rồi khoác ngoài một bộ quần áo thường, khi ra khỏi buồng bệnh thực hiện cởi bỏ khẩu trang, mũ, quần áo, tiến hành rửa tay sát khuẩn ngay lập tức. Những quy trình này do GS Lê Đăng Hà quy định, đã giúp các bác sĩ và điều dưỡng viên của viện không bị lây nhiễm. Đến nay, kinh nghiệm này đã được kế thừa với độ chuyên nghiệp rất cao khi Việt Nam đối phó với Covid-19. Nhưng ở thời điểm tháng 3-2003, đó là quy định nghiêm ngặt mà trải qua sự nghiên cứu kỹ lưỡng, GS Lê Đăng Hà mới ban hành quy định như vậy. Ông tạm gọi đó là những giải pháp lấy thủ công thắng hiện đại.

Phác đồ điều trị “kiểu Việt Nam”

Ngày 12-3-2003, Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới trở thành cơ sở duy nhất được Bộ Y tế tin tưởng giao nhiệm vụ điều trị cho bệnh nhân SARS. Điều đó đặt ra cho GS Lê Đăng Hà và đồng nghiệp nhiều áp lực mới. Nỗi sợ hãi bệnh SARS đến mức thời kỳ đó, rất ít người dám đi ngang qua khu vực Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới.

leftcenterrightdel
Công trình “Bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới” của Giáo sư Lê Đăng Hà. Ảnh chụp lại.

Trên thế giới lúc đó chưa có phác đồ điều trị cho bệnh nhân SARS. GS Lê Đăng Hà chỉ đạo, tạm thời phân vùng bệnh nhân thành 3 đối tượng: Bệnh nhân nặng, bệnh nhân nhẹ và bệnh nhân mới nhiễm. Các thầy thuốc của viện thực hiện chế độ làm việc 3 ca/ngày, bảo đảm trực 24/24 giờ. Qua nghiên cứu, GS Lê Đăng Hà thấy rằng, tỷ lệ tử vong của bệnh nhân nhiễm SARS là do virus tàn phá phổi rất nhanh, có người hôm trước chụp thì thấy vùng tổn thương phổi rất nhỏ, hôm sau chụp lại thì đã trắng xóa. Vì vậy, ông cho chụp phổi thường xuyên, kịp thời chẩn đoán mức độ tổn thương phổi của từng người để có phác đồ điều trị hợp lý. Với các bệnh nhân nặng phải hỗ trợ thở, có 3 phương pháp hỗ trợ cơ bản. Một là mở khí quản ở phía dưới cổ để đặt ống xông. Hai là, cho ống xông trực tiếp vào miệng. Ba là, cho thở hoàn toàn bằng máy. Với hai cách đầu, bệnh nhân dễ thở hơn, nhiều bệnh viện trên thế giới áp dụng hai cách này nhưng bệnh nhân cũng dễ bị nhiễm trùng hơn. Vì thế, GS Lê Đăng Hà quyết định sử dụng phương pháp thứ ba, dù phương pháp này bắt buộc các bác sĩ, y tá phải túc trực bên người bệnh 24/24 giờ. Một thống kê toàn thế giới sau đó cho thấy, nếu sử dụng hai phương pháp đầu, tỷ lệ tử vong vào khoảng 10%. Phương pháp thứ ba, tuy các thầy thuốc vất vả hơn nhưng lại hạn chế tỷ lệ bệnh nhân tử vong ở mức rất thấp.

Cứ dò dẫm nghiên cứu cách điều trị, ngày ngày mặc đồ bảo hộ đến thăm khám kỹ càng từng bệnh nhân để có thêm dữ liệu, số liệu; đêm về lục tung tủ sách và tìm kiếm trên internet các tài liệu có liên quan, GS Lê Đăng Hà đã phác thảo cách điều trị bệnh nhân nhiễm SARS. Bên cạnh việc cho bệnh nhân thở máy, ông chỉ đạo dùng kháng sinh liều cao, huyết thanh điều trị kết hợp với các loại thuốc bổ để nâng cao thể trạng cho người bệnh.

Khoanh vùng ổ dịch thành công, không có ca nhiễm mới, các bệnh nhân lần lượt khỏi bệnh và xuất viện. Ngày 28-4-2003, tròn 45 ngày GS Lê Đăng Hà nhận “lệnh” làm chỉ huy trưởng lên tuyến đầu chống dịch, WHO đã công nhận Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới chặn đứng được dịch SARS. Chuyện kể rằng, ngày 29-4-2003, Hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN tại Băng Cốc (Thái Lan), nguyên thủ các nước ASEAN đã chúc mừng Thủ tướng Phan Văn Khải và đánh giá đây là một kỳ tích. GS Lê Đăng Hà được nhiều nước và nhiều hội nghị quốc tế mời đến báo cáo kinh nghiệm chống dịch SARS của Việt Nam. Năm 2004, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng ông danh hiệu Anh hùng Lao động vì thành tích đặc biệt xuất sắc trong góp phần khống chế dịch SARS ở Việt Nam.

Giữa những ngày cả nước chống đại dịch Covid-19, chúng tôi đã đến thăm gia đình GS Lê Đăng Hà nằm trong một con ngõ nhỏ trên phố Ngô Tất Tố (Hà Nội). Năm ngoái, GS không may bị một cơn đột quỵ nên từ đó ông hạn chế trong giao tiếp. Vợ ông, bác sĩ Nguyễn Thị Tuyết Oanh mở tủ cho chúng tôi xem gia tài khoa học của ông. Bỏ qua những bằng khen, giấy khen, bà mang ra hai tập sách rất dày cả nghìn trang mỗi tập mang tên “Bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới”. Bà tự hào cho biết đó là công trình khoa học để đời mà ông đã công phu nghiên cứu, được các thế hệ thầy thuốc Việt Nam ghi nhận, đánh giá cao. Bà kể, khi biết tin ông được giao nhiệm vụ chỉ huy trưởng chống dịch SARS, không chỉ riêng gia đình bà mà toàn thể cán bộ, thầy thuốc, nhân viên Viện Lâm sàng các bệnh nhiệt đới lúc đó bị mọi người sợ hãi, xa lánh, kỳ thị. Con em đến trường bị áp lực phải nghỉ học. Bạn bè, người thân biết tin cũng chỉ dám gọi điện để chia sẻ chứ không ai dám đến gần. Hàng xóm cùng khu phố cũng tránh tiếp xúc... Hơn ai hết, bà là người hiểu được sự dũng cảm, dấn thân, hy sinh quên mình vì người bệnh và vì cộng đồng của ông. Niềm vui lớn nhất của bà là những kinh nghiệm chống dịch SARS mà ông đúc kết đã có tác dụng lớn để ngành y phòng, chống Covid-19 lần này, đất nước vì thế mà bình tĩnh, quyết liệt chống dịch chứ không hoảng loạn, sợ hãi.

GS, TSKH, Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân Lê Đăng Hà sinh năm 1935 tại Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội, ông ở lại trường công tác, được cử đi làm luận án Phó tiến sĩ (năm 1972) và Tiến sĩ (năm 1986) tại Nga. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông đã tham gia dập tắt nhiều ổ dịch tả, sốt xuất huyết, dịch hạch. Năm 1995, dịch thương hàn lan tràn 42 tỉnh, thành phố ở nước ta, ông đã đề xuất phác đồ điều trị và được Bộ Y tế điều động đi chống dịch ở nhiều địa phương. Ông cũng là Trưởng ban Điều trị và chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS đầu tiên của Việt Nam...

NGUYỄN HỒNG