Có như vậy, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững. Trong những năm tới, giao thông vận tải vẫn là một trong những đột phá chiến lược quan trọng của kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội cần được ưu tiên đầu tư phát triển “đi trước một bước” nhưng phải bảo đảm tính đồng bộ, hiện đại, chất lượng và bền vững để tạo tiền đề cho phát triển kinh tế-xã hội.

Nhìn lại hai thập kỷ vừa qua, có thể thấy bức tranh chung của kết cấu hạ tầng giao thông nước ta đã có những thay đổi vượt bậc cả về lượng và chất. Đã có 1.041km đường ô tô cao tốc được đưa vào khai thác. Trong tổng số gần 25.000km quốc lộ thì đã có gần 2/3 được trải nhựa. Tính đến năm 2018, hầu hết các xã đã có đường ô tô vào đến trung tâm xã trong số chiều dài tổng cộng của đường giao thông địa phương lên đến gần 600.000km. Năng lực vận tải đường thủy nội địa được nâng cao. 7/17 tuyến đường sông ở phía Bắc với tổng chiều dài 945km, 1/10 tuyến ở miền Trung với chiều dài gần 64km, 9/18 tuyến ở khu vực phía Nam với tổng chiều dài 2.304km đã được đầu tư nâng cấp, cải tạo chất lượng luồng, chỉnh trị cửa sông, kênh, âu tàu lớn, xây dựng cảng đầu mối container... Vận tải hàng không tăng trưởng bình quân 16-18%/năm, đạt 90 triệu hành khách/năm. Vận tải biển đã đảm nhận hầu hết thị phần hàng hóa xuất nhập khẩu...

leftcenterrightdel
Đường dẫn vào cao tốc Hà Nội - Hải Phòng (Quốc lộ 5B). Ảnh: TRỌNG HẢI

Đội ngũ các nhà khoa học, kỹ sư, cán bộ, công nhân đã vượt qua được tất cả những thách thức về kỹ thuật, công nghệ để nắm bắt và làm chủ các công nghệ tiên tiến hiện đại nhất của thế giới trong lĩnh vực xây dựng giao thông, từ các công trình cầu nhịp lớn hàng trăm mét, như: Cầu dây văng, dây võng, bê tông dự ứng lực thi công đúc đẩy, đúc hẫng, đà giáo đẩy, lắp hẫng... cho đến các công trình cảng biển nước sâu có khả năng tiếp nhận tàu với sức chở đến 200 nghìn tấn, cảng du lịch có khả năng tiếp nhận các con tàu chở khách du lịch lớn nhất thế giới, cảng hàng không có khả năng đón nhận các máy bay hiện đại nhất và hàng trăm triệu lượt hành khách/năm...

Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố, trong kỳ đánh giá 2017-2018, năng lực và chất lượng kết cấu hạ tầng của Việt Nam liên tục tăng bậc, từ thứ 95/144 (năm 2011) lên thứ 79/137 (năm 2016), trong đó, chỉ số về chất lượng kết cấu hạ tầng đường bộ đứng thứ 92 (tăng 28 bậc), cảng biển đứng thứ 82 (tăng 31 bậc). Chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) của Việt Nam năm 2018 xếp hạng 39/160 nước, tăng 25 bậc so với năm 2016.

Tuy vậy, vấn đề nhức nhối là tính thiếu đồng bộ trong định hướng đầu tư giữa các loại hình kết cấu hạ tầng giao thông đã kéo theo sự mất cân đối thị phần giữa các loại hình vận tải và dẫn đến nhiều hệ lụy đối với phát triển kinh tế-xã hội như giá thành vận tải, chi phí logistics, tai nạn giao thông... Theo số liệu năm 2019 của Bộ Giao thông vận tải, khối lượng vận tải hàng hóa đường bộ chiếm 79,3%, đường thủy 4,6%, đường sắt 0,3% và hàng không 0,03%, còn vận tải hành khách thì đường bộ chiếm 93,6%, đường thủy 5,1%, hàng không 1,1% và đường sắt 0,2%. Bên cạnh đó, do quỹ đất dành quá thấp, bất cập về quản lý quy hoạch và đầu tư cho giao thông đô thị chưa cân đối dẫn đến tắc nghẽn giao thông ở các thành phố lớn, nhất là ở Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến các mặt phát triển đô thị về kinh tế-xã hội.

Chính vì vậy, yêu cầu phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông trong thập kỷ tới là một yêu cầu cấp thiết. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để tái cơ cấu các ngành vận tải, nhất là thị phần vận tải theo hướng giảm thị phần vận tải đường bộ, tăng thị phần vận tải đường thủy nội địa, đường sắt, phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics, giảm chi phí logistics và tăng thị phần vận chuyển hành khách của phương tiện giao thông công cộng tại các thành phố lớn.

Để đạt được các mục tiêu trên, trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đến năm 2030, hơn 80% các tỉnh/thành phố trong cả nước sẽ có đường bộ cao tốc đi qua hoặc kết nối tới trung tâm hành chính với tổng chiều dài đường ô tô cao tốc được xây dựng mới khoảng 2.500km, trong đó ưu tiên đưa vào khai thác đường bộ cao tốc Bắc-Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau, các tuyến hành lang vận tải chủ yếu, các tuyến cửa ngõ kết nối với Thủ đô Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các đô thị lớn, các tuyến cao tốc vành đai đô thị. Một loạt công trình sẽ được xây dựng và đưa vào sử dụng như ở Thủ đô Hà Nội là cầu Tứ Liên, cầu Vĩnh Tuy 2, ở TP Hồ Chí Minh là các cây cầu dây văng Thủ Thiêm, Bình Khánh, Phước Khánh, vành đai 3 đoạn Tân Vạn-Nhơn Trạch, đoạn Bình Chuẩn-Quốc lộ 22-Bến Lức, ở Đồng bằng sông Cửu Long là các cây cầu dây văng Đại Ngãi, Mỹ Thuận 2, Rạch Miễu 2, ở miền Đông Nam Bộ là cầu Phước An, ở Quảng Ninh là các cây cầu Cửa Lục 1, 2, 3; trên tuyến cao tốc phía đông là một loạt công trình hầm đường bộ, cầu lớn...

Đối với lĩnh vực giao thông đường sắt, sẽ triển khai xây dựng một số đoạn trên tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam, trong đó, ưu tiên đoạn Hà Nội-Vinh, TP Hồ Chí Minh-Nha Trang. Nhanh chóng phát triển mạng đường sắt đô thị làm nòng cốt phát triển vận tải hành khách công cộng tại các đô thị lớn: Đưa vào khai thác tuyến đường sắt đô thị Metro Nhổn-ga Hà Nội, tuyến đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông-Hà Nội, tuyến Metro Bến Thành-Suối Tiên. Mặt khác, sẽ phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông đường sắt với phương tiện vận tải, thiết bị quản lý, điều hành hiện đại và gắn kết với các trung tâm phân phối hàng hóa, cảng biển lớn, cảng cạn ICD. Phát triển giao thông đô thị theo quan điểm hướng tới văn minh, hiện đại. Từng bước xây dựng các tuyến vận tải hành khách khối lượng lớn tại các đô thị loại I. Tiếp tục đầu tư phát triển mạng lưới đường sắt đô thị tại Thủ đô Hà Nội và TP Hồ Chí Minh để bảo đảm tỷ lệ vận tải hành khách công cộng đạt 40-45%.

Đối với lĩnh vực hàng hải, sẽ tiếp tục nghiên cứu đầu tư các bến còn lại của cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, huy động vốn đầu tư cảng quốc tế Vân Phong, tiếp tục nâng cao hiệu quả khai thác khu bến cảng quốc tế Cái Mép-Thị Vải; tiếp tục đầu tư luồng Thị Vải để bảo đảm cho tàu 200.000T hành thủy 24/24 giờ. Nâng cấp cải tạo luồng vào cảng Cửa Lò, Nghi Sơn, đê chắn sóng cảng Vũng Áng, chắn cát luồng Cửa Việt...

Với lĩnh vực hàng không, sẽ hoàn thiện mạng lưới cảng hàng không trong cả nước với quy mô hiện đại; hoàn thành mở rộng các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất theo quy hoạch gồm nhà ga T3 Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, đường cất hạ cánh số 3 và nhà ga T3 Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; đầu tư Cảng hàng không quốc tế Long Thành (giai đoạn 1) có vai trò và quy mô ngang tầm với các cảng hàng không quốc tế lớn trong khu vực. Đầu tư hệ thống quản lý hoạt động bay hiện đại, bảo đảm tầm phủ của các trang thiết bị liên lạc, dẫn đường và giám sát theo yêu cầu nhiệm vụ trong toàn bộ vùng FIR của Việt Nam.

Đối với lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, sẽ tiếp tục đưa vào cấp kỹ thuật, bảo đảm chạy tàu 24/24 giờ các tuyến đường thủy nội địa chủ yếu. Kết nối tuyến sông Đáy-Ninh Cơ-Đuống ở phía Bắc và nâng cấp kênh Chợ Gạo giai đoạn 2, luồng sông Hậu giai đoạn 2 ở phía Nam. Tiếp tục huy động vốn đầu tư các tuyến đường thủy có nhu cầu vận tải lớn; dự án phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam. Cơ giới hóa bốc xếp các cảng, bến thủy nội địa hiện đại, có hiệu quả.

Viễn cảnh, kế hoạch đã được tính toán là như thế. Tuy vậy, nguồn lực quốc gia nói chung và nguồn lực dành cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông còn hạn chế nên toàn ngành giao thông phải xác định được những dự án cấp bách, những dự án cần được ưu tiên để tập trung hoàn thành trước. Mặt khác, bên cạnh việc xây dựng mới còn phải quan tâm và đầu tư đúng mức cho công tác bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông mới có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội sắp tới.

PGS, TS TỐNG TRẦN TÙNG