Bắt đầu vào chiến dịch, để bảo đảm đánh chắc thắng, quân ta đã kịp thời chuyển phương án tác chiến chiến dịch, từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Theo đó, phương pháp tác chiến chiến thuật mang theo ý nghĩa chiến dịch cũng thay đổi theo.

Phương pháp này có những nội dung rất phong phú, được thể hiện bằng nhiều kiểu loại khác nhau, kể từ phương pháp quan trọng nhất, là lần lượt tiêu diệt sinh lực địch, từng tiểu đoàn hoặc một số tiểu đoàn nằm trong hệ thống tập đoàn cứ điểm, đến phương pháp dùng mọi cách triệt đường tiếp tế hậu cần bằng không quân của địch và phương pháp dùng mọi cách bảo vệ các tuyến tiếp tế hậu cần của ta.

4. Ở đây chỉ xin nêu lên một phương pháp chiến thuật có ý nghĩa chiến dịch quan trọng, nhất là công tác xây dựng hệ thống trận địa tiến công và bao vây quân địch, bằng một hệ thống chiến hào ngang dọc-thường vẫn gọi là chiến thuật vây lấn. Thực tế đó chứng tỏ là trên chiến trường này, lần đầu tiên trong lịch sử quân sự hiện đại, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực sự tiến hành chiến tranh kiểu chiến hào. Phương pháp chiến thuật này khiến đối phương, một quân đội dù đã có một truyền thống vững vàng và có nhiều kinh nghiệm về chiến tranh chiến hào như quân đội Pháp, mà cuối cùng phải cúi đầu chấp nhận thất bại cay đắng. Điều đó khiến cho Bernard Fall, một người Mỹ gốc Pháp-từng viết nhiều công trình khoa học về Việt Nam và Đông Dương-phải xác nhận: Những người cộng sản đã tỏ ra rất mưu trí khi đưa nghệ thuật đào chiến hào tiếp cận đến mức cao nhất.

leftcenterrightdel
Tù binh Pháp trên đường về xuôi, đợt trao trả sau Hiệp định Geneve. Ảnh tư liệu

Về phương pháp chiến thuật này, sau khi phân tích về những khó khăn trên chiến trường Điện Biên Phủ, là các chiến sĩ ta phải thường xuyên chiến đấu trong điều kiện đối phương có hỏa lực pháo binh và không quân mạnh, dù cho từng trung đội đến từng tiểu đoàn, đều đã có công sự cho các trận địa xuất phát tiến công, nhưng rồi kết quả cũng chỉ đạt tới mức tiêu diệt được từng tiểu đoàn độc lập của địch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết tiếp: Trong một thời gian khá dài, vấn đề đặt ra mà chưa được giải quyết là phải làm thế nào để tiến hành được cuộc chiến đấu cả ngày lẫn đêm và trên mọi địa hình, có như vậy mới mở ra khả năng tiêu diệt sinh lực lớn của địch. Sự phát triển công sự thành một hệ thống trận địa tiến công và bao vây đã giải quyết thành công một vấn đề quan trọng, mở ra khả năng nói trên.

Điều đáng chú ý là hàng chục năm sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, trong khi tỏ ra rất khâm phục trước sự sáng tạo chiến thuật của bộ đội Việt Nam, gọi chiến thuật vây lấn là “chiến thuật bóp cổ”, các sĩ quan và các nhà nghiên cứu quân sự nước ngoài vẫn chưa hiểu hết thực chất của chiến thuật này. Họ cho rằng, những chiến thắng của Việt Minh không thể nói đó là những “xung kích bằng biển người” mà cũng không thể nói sự “xâm nhập” cũng như sự “rỉ ra” mà chỉ khẳng định rằng, chiến thuật vây lấn đã đạt tới một “sự tuyệt hảo đáng khiếp sợ”.

5. Thiếu tướng De Castries đã từng nói: Tập đoàn cứ điểm mà ông ta đang chỉ huy có dáng dấp một Verdun, nhưng không có “con đường thiêng liêng”. “Con đường thiêng liêng” mà ông ta nói ở đây là đoạn đường mà trong trận Verdun năm 1916, tướng Pétain của quân Pháp đã sử dụng để điều khiển 3.400 xe vận tải, ngày đêm chuyển đạn dược, thuốc men, lương thực từ hậu phương ra tiền tuyến. Trong lịch sử chiến tranh, lần đầu tiên có sự vận chuyển quy mô lớn như vậy.

Nhưng điều De Castries nói chỉ đúng một phần. Bởi vì “con nhím khổng lồ” của ông ta hoàn toàn bị cô lập trên mặt đất. Chính Tổng chỉ huy Navarre đã cho rằng Điện Biên Phủ “có một trong những sân bay tốt nhất Đông Nam Á, một đầu cầu hàng không tuyệt hảo” để nối liền hậu phương chiến lược tới Điện Biên Phủ, nối liền các sân bay Gia Lâm (Hà Nội), Cát Bi (Hải Phòng) với các sân bay Mường Thanh, Hồng Cúm. Nhưng “con đường thiêng liêng” trên mặt đất năm 1916 không bao giờ bị quân Đức đánh chiếm thì tại Điện Biên Phủ, từ sau ngày 25-4 trở đi, “con đường thiêng liêng” trên không trung của quân Pháp bị cắt đứt hoàn toàn, sau khi quân ta tiêu diệt hai cứ điểm bảo vệ sân bay Mường Thanh là 105 và 206, cũng như trước đó, một tháng rưỡi, tại các sân bay Gia Lâm, Cát Bi, đã có 74 máy bay các loại bị quân ta phá hủy.

Xuất hiện lần đầu, với trận đánh mở màn, chỉ một ngày sau, cùng với pháo mặt đất, pháo cao xạ đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng không quân tại chỗ của địch. Tiếp sau đó, các loại máy bay chiến đấu, vận tải cũng liên tục bị bắn rơi trên bầu trời Điện Biên Phủ. Ngoài 62 máy bay bị tiêu diệt còn có 167 chiếc khác bị bắn hỏng. Các nhà khoa học gọi đó là “cuộc tàn sát những máy bay” (le massacre des avions).

Việc quân Pháp mất hai cứ điểm bảo vệ và sân bay Mường Thanh bị quân ta kiểm soát gây nên những hậu quả lớn với tập đoàn cứ điểm. Nếu trong bốn ngày đầu chiến dịch, sự tăng viện và tiếp tế đối với tướng De Castries được thực hiện rất đều đặn và bình thường, thì mười ba ngày sau đó công việc đã sụt xuống một cách nghiêm trọng. Do việc sân bay Mường Thanh bị đánh chiếm, vùng trời mà không phận địch có thể hoạt động được bị thu hẹp. Chỉ riêng ngày 26-4, pháo cao xạ đã bắn rơi xuống vùng ta 2 máy bay B.26 và 1 máy bay cường kích, 50 máy bay khác bị trúng đạn. Ngày 27-4, 20 máy bay Dakota thay nhau bay lượn trên vùng trời thung lũng nhưng vướng đạn cao xạ nên không thả được một dù tiếp tế nào. Ngày hôm sau, 28-4, 22 máy bay Dakota khác cũng phải quay về với toàn bộ các kiện hàng mang theo. Ngày 30-4, 100 máy bay vận tải đã liều lĩnh thả dù xuống được 212 tấn hàng, nhưng 50% số đó đã rơi xuống trận địa quân ta. Những ngày sau đó, những máy bay vận tải buộc phải bay cao từ 2.900 đến 3.000m nhưng vẫn không tránh được sự trừng phạt của pháo cao xạ, khiến 30-40% số hàng thả dù đều rơi xuống trận địa quân ta.

6. Những điều vừa nêu trên đã chứng tỏ “con đường thiêng liêng” trên không trung của địch đã hoàn toàn bị khống chế. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã hoàn toàn bị triệt lương. Cùng với sức mạnh tiến công của chiến thuật vây lấn và hỏa lực pháo binh của quân ta suốt 56 ngày đêm thì sự đầu hàng của tướng De Castries vào chiều 7-5 là điều không thể nào tránh khỏi.

Những yếu tố then chốt tạo nên sức mạnh tiến công mãnh liệt, đưa tới chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy cũng chính là những gì mà người Pháp bị ám ảnh nhất. Nhưng bên cạnh những yếu tố trên, còn một yếu tố vô cùng quan trọng nữa là vấn đề hậu phương, cụ thể là công tác vận chuyển lương thực cho bộ đội và đạn dược cho vũ khí.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, vấn đề cung cấp, tiếp tế được xem là khó khăn nhất. Với điều kiện tiền tuyến cách xa hậu phương đến 400-500km, thời tiết khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, đường sá hư hỏng, nhưng ta phải bảo đảm cung cấp một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men một cách nhanh chóng, liên tục. Đặc biệt, việc tiếp tế cần được giữ bí mật ở mức cao nhất, nhằm tránh địch phát hiện và đánh phá.

Để có một lực lượng mạnh cho chiến dịch, ta đã huy động tối đa sức người và sức của của hàng vạn dân công và bộ đội làm đường dã chiến trong khoảng thời gian cực ngắn, dưới điều kiện rất khó khăn trên miền núi, lại luôn luôn bị máy bay Pháp oanh tạc.

Bên cạnh 650 chiếc ô tô vận tải là chủ yếu, thì một trong những lực lượng quan trọng phục vụ cho chiến dịch cần phải nói đến là đội xe đạp thồ trên hai vạn người, với năng suất vận chuyển mỗi xe từ 200kg đến 300kg. Xe đạp được cải tiến có thể thồ gấp 10 lần dân công gánh bộ, đồng thời giảm được sức tiêu thụ gạo ăn đường cho người chuyên chở. Ngoài ra, xe đạp thồ còn có thể hoạt động trên những tuyến đường mà xe ô tô không thể đi được. Chính phương tiện vận chuyển này đã gây nên bất ngờ lớn, ngoài tầm dự tính của các nhà chỉ huy quân sự Pháp, làm đảo lộn những tính toán trước đây, cho rằng Việt Minh không thể bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày, trong các điều kiện phức tạp như vậy được.

Khái niệm “xe đạp thồ” cũng ra đời từ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nó góp phần quan trọng vào chiến thắng, trở thành “vua vận tải” cho trận đánh lớn này. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội và dân công của ta sử dụng hơn 21.000 chiếc xe đạp thồ, được gọi là “binh chủng xe đạp thồ”, hoạt động trên suốt chiều dài gần 1.500km.

Để có thể thồ được một khối lượng lớn, từ một chiếc xe đạp, dân công, bộ đội đã buộc thêm vào ghi đông một đoạn tre nhỏ dài khoảng 1m, gọi là “tay ngai” để điều khiển và buộc vào trục yên một đoạn tre cao hơn yên khoảng 50cm để cầm, vừa giữ thăng bằng cho xe, vừa đẩy xe đi. Để tăng thêm độ cứng cho khung xe, người ta hàn thêm sắt, buộc thêm gỗ, dùng vải, quần áo cũ, săm cũ… để “gia cố” và tăng thêm độ bền của săm lốp.

Nói về lực lượng vận tải thô sơ này, trong chiến cuốn Trận Điện Biên Phủ, nhà báo Jules Roy cho rằng: Đã có hàng trăm tấn bom được ném xuống các tuyến đường giao thông và những con đường tiếp vận của Quân đội nhân dân Việt Nam nhưng chẳng bao giờ cắt đứt nổi những con đường ấy. Tướng Navarre bị thua chính là những chiếc xe đạp thồ, với những kiện hàng từ 200 đến 320kg, được điều khiển bởi những con người ăn không thật no mà ngủ thì nằm ngay trên những mảnh ni lông trải dưới đất.

Đội quân xe đạp thồ xuất hiện ở Điện Biên Phủ là một điều kỳ diệu, chưa từng có trong lịch sử chiến tranh, không chỉ ở Việt Nam mà cả trong lịch sử chiến tranh thế giới. Đây là một minh chứng hết sức sinh động cho tinh thần và ý chí quyết tâm không gì lay chuyển được của một dân tộc đang trên con đường giành lại độc lập tự do.

DƯƠNG XUÂN ĐỐNG