Tờ báo Quân giải phóng miền Nam ngày nay không còn ai thấy mặt, bởi vì nó đã làm xong công việc mà lịch sử giao phó. Nhưng đối với chúng tôi, cái tên ấy gợi lại quãng thời gian cầm bút-cầm súng trong một trận đánh hào hùng, một quãng đời với biết bao kỷ niệm buồn, vui, thương, nhớ, máu, mồ hôi, nước mắt.

Hồi ấy, danh hiệu “phóng viên chiến trường” làm chúng tôi phấn chấn lắm, vì như vậy là được hưởng cái tự hào của người lính chiến. Mà lính thật, bởi mỗi năm chúng tôi ở chiến trường gần 12 tháng. Thậm chí không ở nhà một ngày nào và cũng có những người cùng tổ, cùng ban mà suốt thời gian chiến tranh không thấy mặt, bởi vì họ xuống tận rừng U Minh muỗi kêu như sáo thổi, lên Bà Rá, thượng Đồng Nai “chó ăn đá, gà ăn muối”… Chúng tôi theo dõi nhau qua buổi phát thanh Quân Giải phóng miền Nam của Đài Phát thanh Giải phóng. Mỗi lần nghe bài của họ phát trên đài, chúng tôi vui mừng reo lên: “À, nó còn sống!”.

Đã là lính thì rất nhiều chuyện, nhất là những mùa đánh lớn. Càng đánh lớn càng nhiều chuyện. Đánh lớn hồi bảy mươi lăm kết thúc chiến tranh thật nhiều chuyện, nhưng có thể nói là những chuyện tròn trĩnh, ít gai góc… Đánh lớn hồi Mậu Thân thì đúng là những chuyện buồn, vui, thương, nhớ, nước mắt, nụ cười... chen lẫn nhau.

Trước ngày xuống đường năm ấy, chưa lúc nào đám phóng viên chiến trường chúng tôi tề tựu đông đủ hơn, chỉ còn thiếu Đặng Nhưng ở Bà Rịa, Thế Thành ở U Minh. Đông đủ đến mức cái nhà lá trung quân ở khu rừng Kà Tum (Tà Đạt, Tây Ninh) suýt nữa sập vì treo võng quá nhiều. Chúng tôi quét sân sạch bong làm cái bàn ở ngoài trời để ăn Tết trước. Lấy mũ sắt Mỹ ngâm gạo tráng bánh cuốn. Người này hỏi người kia: Lần này không biết về thành luôn hay còn trở lên rừng? Anh Phú Bằng (Phạm Hồi, Phạm Hồng...), “tổng biên tập” của chúng tôi, người mà khi “giảng thời cuộc” (với chúng tôi) thường chỉ nghiêm được phân nửa, còn phân nửa sau là nói đùa với chúng tôi:

- Báo cho 12 “vị La Hán” (anh thường gọi 12 phóng viên chiến trường chúng tôi là như vậy): Trận này trước khi đi ta nổi lửa đốt nhà, khi chiếm Sài Gòn rồi, các vị cứ theo đài, theo báo mà tìm chỗ về, chỗ cục tâm lý chiến của tụi nó đấy, chỗ trụ sở báo Tiền tuyến ấy!

Chúng tôi biết anh đã pha trò, nhưng cũng không phải hoàn toàn là “trò”; qua đó biết phen này đánh lớn lắm, lớn chưa tưởng tượng nổi! Còn một bằng chứng nữa: Chính anh Phú Bằng cũng đi, vậy là “xuất tướng” rồi! Lán Kà Tum rậm rịch từ đầu hôm đến sáng. Kẻ rang gạo, người khâu lại cái bao “giò heo” (súng colt)… Riêng Tô Tấn, người có biệt danh là “phóng viên đồng nát” vì hay nhặt vỏ bom napalm về gò soong, gò chảo, về cứ thì vác AR-15 ra rừng kiếm cheo, kiếm sóc để làm nhân bánh cuốn. Đình Thịnh, Mai Bá Thiện hôm qua còn rên hừ hừ trên võng, sốt rung cả cột nhà… hôm nay bỗng dưng “tự nhiên mà hết”. Nhưng không phải chỉ có vui. Một cái gì đó làm chúng tôi lâng lâng. Cánh rừng Kà Tum, chợ trời biên giới, suối Tiên Cô… và cả con chim “mùa khô”, con “vó ngựa biên cương”… kia nữa, không biết rồi đây có còn gặp lại không.

Tổ phóng viên chiến trường soát xét lại mọi việc trước giờ ra trận: Xét đơn xin vào Đảng của Tô Tấn, kết nạp Tô Sản, chuyển Đảng chính thức cho Trần Phấn Chấn… Xin mở ngoặc, hồi ấy tôi vừa qua 2 năm “ăn dầm nằm dề” ở Tiểu đoàn Hêrôn khu 8. Hai năm trời, đối với tôi ngoài những bài được đọc trong buổi phát thanh Quân Giải phóng (Đài Phát thanh Giải phóng), thì chỉ độc một bài thơ được chọn đăng báo, nhưng rủi thay số ấy không in vì căn cứ bị đánh bom, rốt cục nó chỉ có mặt trong mục điểm báo của đài. Bù lại, tôi được kết nạp Đảng tại một tiểu đoàn nổi tiếng của đồng bằng, bởi tôi “chịu chơi” và thực sự là người lính của đơn vị. Mỗi lần hành quân bao giờ cũng giành phần mang soong cho anh em, đến nỗi mấy cô gái đồng bằng vẫn tưởng tôi là “lính nấu cơm”, còn bộ đội thì gọi tôi là “nhà báo mang soong”, tôi cũng sung sướng với danh hiệu đó. Hai năm rèn luyện một sinh viên ngành toán trở thành nhà báo.

Giờ phút thiêng liêng của chúng tôi vào những ngày ăn Tết tưởng chừng như là không trở lại rừng ấy là lúc nghe thơ Bác. Giọng Bác ấm và khỏe:

Tiến lên toàn thắng ắt về ta!

Không khác nào đang có tiếng kèn xung trận. Mọi bồn chồn, bâng khuâng tan biến.

Anh Phú Bằng nhằm hướng thẳng về dinh tổng thống ngụy. Chúng tôi chia từng nhóm hai người xuống 5 cánh quân của 5 hướng tiến về Sài Gòn. Tôi về hướng tây với Thân Trọng Hân. Anh vốn là cán bộ của Thông tấn xã Việt Nam, một con người mà Tổ phóng viên chiến trường gọi là “nhà hiền triết” hay là “nhà hiền triết sống bằng tinh thần”. Anh không biết đùa, thờ ơ với của ngon vật lạ, sốt không rên hừ hừ như Mai Bá Thiện, cũng không run bần bật như Đình Thịnh… Tôi có hơi bực mình vì phải đi cùng nhóm với một người có vẻ lạnh lùng. Nhưng rồi, chỉ qua mấy ngày cùng hành quân, tôi mới biết đó chỉ là cái bề ngoài của một con người tình cảm sâu sắc và những gì xảy ra sau đó khiến lòng tôi rưng rưng mỗi lần nhớ đến anh.

Qua sông Vàm Cỏ Đông, chuẩn bị vào đợt 2, có một quả M.79 từ tàu địch bay tới chỉ cách chúng tôi không quá hai thước, may đâu nó vùi vào bùn không nổ. Lần đầu tiên trong chuyến đi, tôi nghe anh Hân đùa: “Nam Tào chưa giũ sổ bọn mình!”. Nhưng không ngờ những gì xảy ra sau đó lại không phải như vậy. Chiều hôm sau ở xã An Ninh (huyện Đức Hòa, tỉnh Long An), sắp chia tay mỗi người một ngả, anh lục ba lô lấy hết đường, bột, trứng, lương khô đưa cho tôi: “Cậu gầy ốm, cần cái này hơn!” (thực ra anh chẳng mập gì hơn tôi). Tôi không ngờ đó là những giây phút vĩnh biệt.

Đêm đó tôi đi theo đơn vị đánh đồn biệt kích ác ôn Trà Cú, án ngữ một cửa ngõ xuống Sài Gòn. Một mảnh cối địch đã lấy của tôi một mảng thịt đùi phía sau, vết thương có thể để lọt 4 ngón tay, nhưng may là “mạch chủ” vẫn còn nguyên. Tôi nằm tại trận, chưa biết xử sự ra sao, bỗng thấy một cô gái dân công lao đến. Trong ánh đèn pháo sáng, cô nhận ra tôi:

- A, anh Mười!

Tôi nhìn lại hóa ra đó là cô liên lạc huyện Đức Hòa, người đã đưa tôi đi “coi” các xã anh hùng An Ninh, Mỹ Hạnh, người mà tôi đã gửi lại cái radio nhỏ và quyển sách học tiếng Anh trước giờ ra trận. Sau giây phút mừng quýnh vì gặp người quen giữa trận mạc, cô vừa tạm băng bó vừa ái ngại vì thấy máu vẫn chảy. Có mấy dân công nữa lao đến. Thế là tôi được đưa về hậu cứ.

Những ai đã từng vượt “cánh đồng tràm chó ngáp” Bắc Long An để lên vùng Mỏ Vẹt thời kháng chiến thì ắt thông cảm nỗi gian truân của những người dân công đã khiêng tôi trong đêm tôi bị thương ấy. Mặt đất ướt không ra ướt, khô không ra khô, mang dép thì bùn níu, không mang thì coi chừng gốc tràm nhọn, nghỉ cũng phải đứng, đòn khiêng trên vai không có chỗ hạ võng, không có chỗ hút thuốc để tránh con mắt cú vọ của đồn biệt kích Tà Pang-rô-boong… Vậy là từ 4 giờ hôm trước cho đến gần 7 giờ sáng hôm sau, cái võng khiêng tôi vẫn không chạm đất. Tôi nhìn những người khiêng mà giật mình và bỗng thấy vết thương của mình là một cái lỗi. Họ chỉ có 3 người, một đã có râu, tóc pha sương, hai phụ nữ đã khá tuổi. Chú và hai chị còn luôn nhắc tôi: “Đau thì nói nghen chú”. Đất Ba Thu hiện ra trước mắt, đoàn khiêng chiến thương (mỗi võng 3 người) bắn 3 phát súng lên trời, hô “xung phong” và ào ạt xông lên… hướng về trạm phẫu thuật vùng biên giới. Phút chia tay thật bùi ngùi, xúc động. Những người dân công ra đi mặt còn ngoảnh lại. Tôi biết công việc của họ còn nhiều, nặng nề suốt mùa tổng tiến công.

Vào trạm phẫu thuật, tưởng không còn gì để viết ở đây. Vậy mà vẫn còn. Một hôm tôi bất ngờ được y tá báo tin: “Có người ở Báo Quân giải phóng vô gặp anh!”. Tôi giật mình: “Chẳng lẽ là anh Hân?”. Một người dáng cao cao bước vào. Hóa ra là anh Ngọc Châu, người kỳ cựu hơn cả “bọn La Hán” chúng tôi ở Báo Quân giải phóng. Anh Châu thì thầm vào tai tôi như có chuyện bí mật: “Hân hy sinh rồi!”. “Nhà hiền triết” đã ngã xuống trong đợt 2 khi tiếp cận quận 5 Sài Gòn.

leftcenterrightdel
Các phóng viên Báo Quân giải phóng miền Nam; từ trái qua: Đình Thịnh, Trần Nam Hương, Trần Phấn Chấn, Phạm Ngọc Thành. nh do nhà báo Đình Thịnh cung cấp

Tôi nhìn xuống cánh đồng chiều mờ mờ màu sương khói… Có bóng anh Hân đâu đó giữa cánh đồng mênh mông đến tận chân trời, nơi ấy ngày nào tôi cùng anh đã đi qua...

Anh Châu đưa cho tôi hai hộp sữa và bảo: “Cậu cứ yên tâm mà nằm, đừng sốt ruột”. Lại một bất ngờ nữa: Đó chính là giây phút tôi vĩnh biệt anh Ngọc Châu! Anh bị trúng bom napalm trên đường tiến vào Sài Gòn.

Như vậy, trong những ngày Mậu Thân lịch sử trên cánh tây Sài Gòn, có hai phóng viên Báo Quân giải phóng miền Nam đã ngã xuống, còn tôi trở về với vết thương đùi.

Trường hợp anh Phú Bằng mới nhìn tưởng “na ná” trường hợp tôi, nhưng thực tế thì khác xa. Anh vào đến tận bên trong thành phố, bị trúng đạn, mê man đến nỗi trên đường khiêng về trạm phẫu, người ta phải từng lúc thăm dò “có còn thở không”. Tuy nhiên, anh đã gặt hái được bao nhiêu bài báo lớn trong chuyến đi ấy.

leftcenterrightdel
Các phóng viên Báo Quân giải phóng miền Nam về họp chi bộ trước khi vào Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Trần Phấn Chấn (ngồi hàng thứ nhất, bìa phải). Ảnh tư liệu

Và, cái pha trò “quá lạc quan” của anh kể ra không quá đáng chút nào. 7 năm sau, từ sóc Tà Tê rừng Lộc Ninh, tổ phóng viên chiến trường chúng tôi “dọn nhà” về đóng chỗ báo Tiền tuyến thuộc cục tâm lý chiến của ngụy quân Sài Gòn. “Đúng điểm hẹn”, tuy có hơi muộn về thời gian.

Riêng phần tôi, để kết thúc bài “nhớ lại” này, lại xin thêm một phần mở ngoặc gọi là để thắp nén hương tưởng nhớ một người đã nói trong bài này: Đó là cô giao liên đã góp phần cứu tôi trong trận Trà Cú. Lúc ấy, cô đang tuổi 17. Năm 1972, khi tôi trở lại Đức Hòa thì nhận được tin đau xé lòng: Cô gái ấy không còn nữa! Cô đã ngã xuống trong một trận đụng biệt kích trên đường giao liên qua vùng Mỹ Hạnh.

TRẦN PHẤN CHẤN