Người được chọn

Một ngày cuối tháng 9 cách đây 34 năm, dưới tán cây gạo đứng chơ vơ trên một gò đất rộng, xung quanh là đầm sen trắng bát ngát, thơm ngào ngạt, nhóm người với cuốc, xẻng, xà beng đang đào ụ đất nhỏ bằng tổ mối. Bỗng có tiếng kêu thất thanh.

- Bom! Có bom! Chạy mau!...

Mọi người hốt hoảng ném dụng cụ chạy ra tứ phía, duy chỉ có cô gái trẻ vẫn đứng ngây bên hố đất. Có lẽ sự việc xảy ra quá bất ngờ nên cô không kịp phản ứng nhưng với tư cách là người phụ trách, cô cảm thấy có trách nhiệm phải kiểm tra kỹ vật mà người ta nói có đúng là bom hay không? Lấy hết can đảm, cô cúi xuống, dùng ngón tay miết lên vật đang bị phủ một lớp bùn mỏng. Sau đường miết, một phần hiện vật lộ ra. Vô cùng sửng sốt, cô gọi lớn:

- Không phải bom, cổ vật mọi người ơi.

leftcenterrightdel
Chị Đinh Thị Nga bên những tấm thổ cẩm Tây Nguyên do chị sưu tầm.

Mọi người quay lại tiếp tục công việc, sau vài phút, cặp sinh thực khí nam và nữ (linga-yoni) bằng đá sa thạch có kích thước 50x40cm và 20x30cm cùng một ngôi đền mộ hiện ra, sự việc nhanh chóng được báo cáo lên các cấp có thẩm quyền.

Đã 34 năm trôi qua, nhưng kỷ niệm ấy vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí Đinh Thị Nga. Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ấy, chị vẫn tin mình được thượng đế “mặc khải” để mở ra một nền văn minh đã khuất.

Sinh ra trên quê hương đất Tổ Vua Hùng, sau khi tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1983, cô gái trẻ Đinh Thị Nga vào công tác tại Bảo tàng Lâm Đồng, phụ trách công tác nghiên cứu, sưu tầm. Năm 1985, trong chuyến công tác đầu tiên về vùng Cát Tiên, cô choáng ngợp trước cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ cùng nét văn hóa đặc sắc của các cư dân bản địa bên bờ sông Đồng Nai. “Ngày ấy Cát Tiên bát ngát rừng nguyên sinh, muông thú, cá chim nhiều vô kể. Chiều chiều, từng bầy nai, lợn rừng hàng nghìn con kéo xuống đầm uống nước, cá sấu phơi nắng dày như phơi gỗ bên bờ sông. Cư dân Mạ, S’Tiêng sống hồn hậu, thuận tự nhiên như cha ông họ từ hàng ngàn năm trước, đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy cởi trần, những ngôi nhà dài tựa “tiếng chiêng ngân” có nhiều hộ gia đình cùng chung sống. Tất cả đều khiến tôi choáng ngợp”, chị Đinh Thị Nga nhớ lại.

Ngày ấy, với đa số cán bộ địa phương từ miền Bắc, miền Trung mới vào thì Cát Tiên là “vùng đất mới”. Tuy nhiên, với kiến thức đã được học, đặc biệt là khi quan sát “dáng núi, hình sông”, Đinh Thị Nga tin rằng Cát Tiên phải là một vùng đất cổ, nơi có con người sinh sống đã lâu đời. Để khẳng định cho phán đoán của mình, cô đã quyết định tổ chức một cuộc đào thám sát bên bờ sông Đồng Nai. Vị trí được chọn là gò đất giữa bàu sen thuộc xã Đức Phổ, huyện Cát Tiên. Rất may mắn là trong đợt đào đầu tiên, đoàn công tác do Đinh Thị Nga phụ trách đã phát hiện ra nhiều hiện vật quan trọng của một di chỉ khảo cổ quy mô lớn. Kể từ đó, những kết quả khai quật được từ di chỉ này liên tục gây sửng sốt cho giới khảo cổ trong nước và quốc tế. Với hàng trăm đền tháp, mộ tháp, nhà lễ cùng hàng ngàn cổ vật gồm ngẫu tượng sinh thực khí nam và nữ, tượng thần, phù điêu, đồ trang sức, đồ thờ, đồ gia dụng, vũ khí, tượng thần… được làm bằng các chất liệu gạch, đá, vàng, bạc, ngọc, thạch anh, đồng, sắt… các nhà khoa học đã kết luận đây chính khu thánh địa Bà-la-môn tồn tại vào khoảng thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 8 và chủ nhân thực sự của nó đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Năm 2016, thánh địa Cát Tiên được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt.

Di sản quý giá

Năm 1990, Đinh Thị Nga chuyển sang công tác tại Báo Lâm Đồng. Tuy nhiên, duyên nợ của chị với văn hóa Tây Nguyên không bị đứt đoạn mà càng thêm bền chặt. Chị tâm sự: “Nếu nghề bảo tàng giúp mình tìm được nhiều cổ vật, hiện vật quý hiếm thì nghề báo lại giúp mình phát hiện, quảng bá và lên tiếng nói mạnh mẽ nhằm bảo vệ những giá trị đặc sắc của văn hóa Tây Nguyên”.

Không chỉ viết hàng nghìn bài báo về văn hóa Tây Nguyên, chị Đinh Thị Nga còn dành nhiều thời gian, công sức nhằm sưu tầm hiện vật văn hóa của đồng bào các dân tộc bản địa trong khu vực. Trong ngôi nhà chứa đầy hiện vật tựa một bảo tàng thu nhỏ, chị hào hứng giới thiệu cho khách bộ sưu tập “săn bắt hái lượm” của đồng bào các dân tộc Cơ Ho, Mạ, Chu Ru, S’Tiêng mà chị đã sưu tầm trong hơn 30 năm qua. Đó là những chiếc gùi, xà gạc, dao, rìu, bếp lò rèn, cối, nỏ, lao, mũi tên, chum, chóe, cây nêu, những bộ khung dệt đủ kích cỡ, được chế tác tinh xảo cùng những tấm thổ cẩm, bộ trang sức rực rỡ sắc màu. “Đây là thổ cẩm của người Mạ, được dệt bằng chỉ làm từ bông, nhuộm màu bằng các loại thảo mộc với màu trắng và đỏ là chủ đạo; kia là thổ cẩm Cơ Ho với gam màu trầm; thổ cẩm Chu Ru có nhiều nét giống thổ cẩm Chăm vì hai dân tộc này có sự liên quan chặt chẽ về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa. Thổ cẩm không chỉ là sản phẩm gia dụng mà còn chứa đựng nhân sinh quan, thế giới quan của đồng bào, thể hiện tâm trạng, tình yêu của người phụ nữ. Người phụ nữ Tây Nguyên khi còn nhỏ đã được bà và mẹ dạy dệt thổ cẩm. Khi lấy chồng, người con gái thường tặng chồng chiếc khố, mẹ chồng chiếc xà-rông, cha chồng tấm khăn đắp. Phụ nữ Tây Nguyên chỉ dệt khi yêu, khi vui và hạnh phúc. Khi buồn họ sẽ không dệt vì sợ sẽ khiến đường chỉ thô, hoa văn không đẹp. Đặc biệt khi người chồng thân yêu qua đời, họ sẽ buồn đau và sẽ không dệt nữa, khung dệt sẽ chỉ còn là vật kỷ niệm mà thôi”, chị Nga chia sẻ.

Trước đây, những hiện vật mà chị sưu tầm rất phổ biến, gắn liền với cuộc sống hằng ngày của người dân nhưng đến nay do cuộc sống tiện nghi, hiện đại nên hầu hết chỉ còn là ký ức, vì thế nó trở nên quý giá. Chính tình yêu mãnh liệt và ý thức trân trọng đối với văn hóa Tây Nguyên đã khiến nhiều đồng bào dân tộc bản địa tin tưởng và họ sẵn sàng bán hoặc trao tặng cho chị nhiều hiện vật quý giá của gia đình, dòng tộc. Tiêu biểu như ngôi nhà cổ Mơ Nông đang hiện diện giữa trung tâm TP Đà Lạt (Lâm Đồng) có tuổi đời 200 năm với những cây cột gỗ gần như hóa đá đã được một gia đình bán cho chị để phục vụ công tác bảo tồn. Ngôi nhà có hình ô van, rộng 6,5m, dài 12,5m, ở giữa có bếp lửa được đào âm xuống nền đất, trên bếp lửa là kho lúa. “Đây là mẫu nhà cổ nhất của đồng bào Tây Nguyên, trước cả nhà sàn, nhà dài bởi thời nguyên thủy, con người thường cư trú trong các hang đá, sau này, khi dọn ra ngoài và làm những ngôi nhà để sinh sống, họ cũng mô phỏng hình hang đá ngày xưa. Khi khai quật một số di chỉ khảo cổ tại Tây Nguyên, các nhà khoa học đã phát hiện tàn tích của kiểu nhà như thế này”, chị khẳng định.

Ngưỡng mộ, yêu mến văn hóa Tây Nguyên, chị càng trăn trở, âu lo trước hiện tượng lai căng, thất truyền của các giá trị văn hóa bản địa. Bằng ngòi bút, chị đã có hàng trăm tác phẩm cảnh báo nguy cơ xuống cấp, mai một của các giá trị văn hóa; phản đối cách ứng xử thiếu khoa học, nhân văn; cách làm vội vã, máy móc gây tổn hại tới không gian văn hóa Tây Nguyên; chị cũng đã nhiều lần kết nối các nhà nghiên cứu, nhà văn hóa và cả những doanh nhân yêu mến văn hóa dân tộc nhằm giữ gìn sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ bản sắc văn hóa bản địa. Giờ đây, dù đã nghỉ hưu nhưng người phụ nữ đậm chất Tây Nguyên ấy mỗi ngày vẫn rong ruổi khắp nẻo đường cao nguyên để gom nhặt hào quang nền “văn minh nương rẫy”. Trò chuyện với chị, có thể cảm nhận tình yêu mãnh liệt, sự am hiểu sâu sắc cùng trách nhiệm lớn lao mà chị tự nguyện hiến dâng cho vùng đất này.

Bài và ảnh: VŨ ĐÌNH ĐÔNG