Gần 60 năm sống ở Hà Nội, với bất cứ cộng đồng dân cư nào, tôi cũng có chủ ý quan sát xem họ và mình có mang được một chất lượng sống gì mới, để được gọi là cư dân Hà Nội không? Bởi tôi thấy, nhân quần tất cả các môi trường sống quen thuộc đều mang dáng vẻ ngụ cư. Họ đều là những người ở khắp các vùng, miền trên cả nước về Thủ đô rồi lập nghiệp. Vậy dân ngụ cư và cư dân bản địa-biết thế nào mà phân biệt?

Không phải là không phân biệt được. Cái truyện ngắn nổi tiếng “Khách ở quê ra” của Nguyễn Minh Châu là nói về bộ phận dân xứ Nghệ ra cư trú ở Hà Nội và mang theo trọn vẹn thói quen của họ. Chắc chắn với số khá đông dân ngụ cư, là người ở khắp nơi đến cư ngụ ở Hà Nội rồi trở thành dân Hà Nội-thì bất cứ khái niệm nào, mỹ từ nào dành cho Hà Nội cũng đều mang theo một nghĩa mới, cho thích hợp với hoàn cảnh sống bỗng trở nên thay đổi gấp rút trong cả một thế kỷ 20 cực kỳ sôi động. Như vậy là Hà Nội đã làm thay đổi họ và họ cũng góp phần làm thay đổi Hà Nội, để có Hà Nội trong thời chiến và Hà Nội trong thời bình; Hà Nội nơi công sở và Hà Nội ở ngõ chợ; Hà Nội trung tâm và Hà Nội ngoại ô; Hà Nội tôn nghiêm và Hà Nội lam lũ; Hà Nội ở hẻm sâu và Hà Nội mặt tiền… Mỗi nơi là một diện mạo riêng và vấn đề là làm thế nào để tìm được một mẫu số chung cho tất cả?

leftcenterrightdel
Du khách quốc tế tham quan khu phố cổ Hà Nội. (Ảnh chụp trên phố Hàng Gà, quận Hoàn Kiếm). Ảnh: MINH THÀNH

Hãy tìm về cái gọi là phố cổ-nơi cư ngụ của lớp dân cư đã sống ở đây qua nhiều đời như: Hàng Chiếu, Hàng Mành, Hàng Đồng, Hàng Thiếc, Hàng Điếu, Hàng Đường, Hàng Chĩnh, Hàng Mắm, Hàng Rươi, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Cót, Hàng Khay, Hàng Mã, Hàng Đậu, Hàng Bè, Hàng Bún, Hàng Trống, Hàng Lược, Hàng Tre, Hàng Gà, Hàng Da, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Bông... Nhiều đời cũng có nghĩa là có đời đầu, họ từ nông thôn mà ra, từ sự phân hóa chậm chạp nghề nông và nghề thủ công, để có một lớp người thủ công-lành nghề, chọn Kẻ Chợ làm nơi sinh sống, để thoát khỏi sự cản trở và phong bế của kinh tế làng. Nơi đó bây giờ được gọi là trung tâm, là phố cổ, và từ nhiều năm nay, chính quyền thành phố đã chọn làm nơi phục vụ khách du lịch, một điểm đến đặc biệt thu hút du khách quốc tế.

Đến từ nhiều nơi để thành cư dân Hà Nội, họ vừa mang theo dấu ấn của quê gốc, lại được Hà Nội hóa theo thời gian, để có những nét mới; và việc quan sát, ghi nhận cung cách sinh hoạt của họ có thể cho ta nhận ra nét dáng gọi là thanh lịch chăng? Tôi hy vọng ở sự tìm kiếm này, và tìm ra lý do cho sự thích thú xem ngắm cảnh quan và con người phố cổ, chẳng phải riêng khách du lịch nước ngoài, mà cả cư dân nội địa khắp các vùng, miền, mỗi lần có cơ hội về thăm Thủ đô, thế nào cũng phải về cho được Bờ Hồ và chợ Đồng Xuân. Nhưng nếu như cách đây một thế kỷ, qua các bức ảnh cũ, qua những ghi chép trong thư tịch, qua văn chương trên Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí… khi các thiếu nữ và phụ nữ Hàng Đào bỗng từ răng đen chuyển sang răng trắng, từ áo tứ thân chuyển sang áo Lemur, từ khăn vuông mỏ quạ chuyển sang tóc vấn trần hoặc bỏ lõi… được xem như là nét dáng thanh lịch; thì từ bấy đến nay, sau ngót 100 năm, Hà Nội đã có quá nhiều thay đổi, một số nét truyền thống ấy nay đã không còn.

Nếu Hà Nội xưa có một nơi, để bây giờ gọi là phố cổ, thu gọn trong phạm vi 36 phố phường thì Hà Nội trong hơn một thế kỷ nay luôn có một ngoại ô, một ven đô mỗi ngày một nới rộng ra, rồi chuyển thành nội đô, khắp cả bốn phía, tỏa ra khắp năm cửa ô, để từ dăm chục vạn dân mà lên đến bảy, tám triệu người bây giờ. Vậy cái ngoại ô ấy, ăn nhập ra sao với cái Hà Nội thanh lịch? Những cái ngoại ô, với đủ mọi dáng nét, hình thù của nó đã sớm có mặt trong phóng sự của Nguyễn Đình Lạp, trong tiểu thuyết của Nam Cao, trong hồi nhớ và truyện ngắn của Tô Hoài trong văn học trước 1945 rồi đến trào lưu văn học hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Trọng Lang… Ngày nay, cư dân nông thôn khắp các tỉnh xa, từ Thanh Nghệ mà ra, từ trung du, miền núi mà xuống… vẫn ùn ùn đổ về Hà Nội, làm nên các chợ người trước đây như Giảng Võ, hoặc dồn trú vào các xóm liều, nằm bên cạnh các bãi rác, để trở thành làng, thành xóm của đủ loại cư dân, làm đủ mọi nghề để sống…

Bên cạnh vấn đề dân ngụ cư, ngoại ô thành phố thì đội ngũ trí thức được coi như một vùng sống quan trọng, như là nét riêng, nét nổi đậm cho ta hiểu hơn sự thanh lịch của Hà Nội. Người trí thức Hà Nội trong lịch sử, từng có tên gọi chung là sĩ phu Thăng Long, hoặc sĩ phu Bắc Hà, đã làm nên cốt cách và tinh hoa của đất nước. Trên mọi lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật và khoa học, người trí thức trong điểm đến là Cách mạng Tháng Tám 1945 cùng toàn dân làm nên một cuộc đổi đời của dân tộc, góp phần tạo nên gương mặt của đất nước sau năm 1945, làm giàu cho vốn văn hóa dân tộc. Riêng lĩnh vực văn học, có những tên tuổi đứng ở hàng đầu nền văn học hiện đại, như Nguyễn Tuân hay Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng hoặc Tô Hoài… rồi tiếp đến là cả mấy thế hệ viết nối tiếp nhau sau năm 1945. Chính họ là những người qua tác phẩm, đã góp công phát hiện, đồng thời cũng là người lưu giữ một biểu tượng rõ nét thế nào là giá trị, là phẩm chất, là tinh hoa gồm cả nét thanh lịch của người Hà Nội. Còn các nghệ sĩ-những con người rất khác nhau, và do khác nhau nên sự sống mới hiện lên đa dạng đến thế. Xét về nguồn gốc thì dường như số lớn trong họ là ngụ cư, không phải có gốc gác lâu đời ở Hà Nội. Họ đến Hà Nội, rồi trở thành người Hà Nội, bởi nghề nghiệp của họ chỉ có thể phát triển và thành tài ở Hà Nội. Nếu không ở Hà Nội, nếu không có bầu không khí và môi trường văn hóa ở Hà Nội, như một đối tượng để quan sát và nghĩ ngẫm, sẽ không có những trang viết nói với ta vừa là cái lõi thanh lịch, lại vừa là những gì chung quanh nó, làm nên nó, bồi đắp cho nó, hoặc đối lập với nó, để đem lại một dấu ấn riêng, đặc trưng riêng của Hà Nội, phân biệt với nhiều nơi khác.

Vậy là, sự thanh lịch, cũng như bất cứ phẩm chất nào khác là một khái niệm động. Bởi Hà Nội đang phát triển và mở rộng trên mọi mặt, mọi quy mô của sự sống vật chất và tinh thần. Bởi Hà Nội hội đủ tất cả những gì có trong cả nước. Khó có một nội hàm xác định. Và khó có sự xác định cho một lần. Ở góc nhìn của khoa học, cần những dữ liệu, những điều tra theo kiểu xã hội học; cần những đối chiếu, phân tích, bác bỏ hoặc xác minh. Ở góc nhìn của nghệ thuật, cần tìm đến sự kết tinh của nó trong các thành tựu và tên tuổi của văn chương, hội họa, âm nhạc, kiến trúc, sân khấu, nhiếp ảnh, điện ảnh như khi đi vào hội họa của Bùi Xuân Phái, Trần Văn Cẩn, Dương Bích Liên…; đi vào âm nhạc của Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Đức Toàn…; sân khấu với Thế Lữ...; nhiếp ảnh với Võ An Ninh… Mở rộng ra thì thật là mênh mông. Trong bài này tôi chỉ có thể tản mạn rút từ văn chương; và trong văn chương tôi cũng chỉ giới hạn trong một số ít tác giả. Bởi lẽ trong văn chương, hầu như tất cả các tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại, đều gắn với Hà Nội. Không thể không gọi họ là cư dân Hà Nội; những người đã được hưởng những gì Hà Nội có, và có đóng góp ít nhiều cho Hà Nội.

Với hai chữ thanh lịch thì nên hiểu như thế nào? Thanh gợi nghĩ sự thanh tú, thanh nhã, thanh cao, thanh tao, thanh đạm, thanh khiết… Còn lịch là kinh lịch, là lịch thiệp, lịch duyệt, lịch lãm… Một ông bạn tôi thì hiểu nền nã. Nhưng nền nã e có hơi chật. Theo cách hiểu quen thuộc, nền nã thường gợi nghĩ sinh hoạt của những gia đình có nền nếp, có gia giáo, vì nó gắn với gia phong, với nếp nhà, trong một xã hội yên ổn, bình lặng… “bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Thế mà cuộc sống ở ta, như cuộc sống thế kỷ 20 lại quá nhiều đổi thay, xáo trộn. Chỉ cần nhìn vào ăn, mặc, ở, đi lại, làm lụng, chơi bời… trong khoảng cách hơn một nửa, hoặc hai phần ba thế kỷ qua thấy chẳng có gì là… như cũ.

Tôi muốn đi tìm một phẩm chất gì khác để nói lên được nét cơ bản gắn với Hà Nội, trong phân biệt với nhiều nơi. Và cảm thấy khó khi chỉ dùng một khái niệm, kể cả nhiều khái niệm. Với Người Hà Nội, trong tổng hòa tất cả các thành phần của nó, đó là cách ứng xử bao dung và lịch thiệp, không địa phương, không cục bộ, không gây mặc cảm, không tỏ ra kỳ thị; là sự coi trọng các giá trị văn hóa và tinh thần, và rộng ra là coi trọng con người; là một quan niệm rộng rãi cho tự do và chính kiến cá nhân… Nếu không có những cái đó sẽ không có Hà Nội với nhiều thời hưng thịnh rực rỡ như xưa nay đã có, và như Hà Nội hôm nay. Chính với cách ứng xử như thế mà ai được sống ở Hà Nội, ai trở thành cư dân Hà Nội (với bức tranh xã hội rộng rãi bao gồm các sắc màu khác nhau, và đối lập nhau như được tản mạn rút ra qua văn học như trên) cũng đều tìm được một khí hậu sinh tồn; và trong bươn chải của muôn mặt đời thường, có cực khổ đến mấy, con người vẫn có thể sống với nhau trong một không gian đáng tự hào là không gian Hà Nội.

Còn đứng về phía các giới lãnh đạo thành phố, tôi nghĩ ở một vài phương diện nghề nghiệp nào đó, cũng giống như nhà văn, họ cần có một năng lực phát hiện, và chính bản thân họ cũng phải ít nhiều là hiện thân cho những gì làm nên phẩm chất, giá trị tinh hoa của người Hà Nội. Và như vậy, đứng về phía là cư dân Hà Nội, chúng ta mong họ: Hãy làm giảm nhẹ mọi khó khăn, vất vả, làm thương tổn đến con người. Hãy sao cho xứng với cái nơi là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật của cả nước; và do thế cũng là nơi xứng đáng cho cả nước ngưỡng vọng.

Tháng 9-2019                                                                                          

GS PHONG LÊ