Để hiểu về thể chế phát triển, trước hết chúng ta cần làm rõ hai khái niệm cơ bản, đó là: Phát triển và thể chế.

Phát triển là một quá trình tạo ra tăng trưởng, tiến bộ và những biến đổi tích cực về cơ sở vật chất, môi trường, xã hội và dân số. Sự phát triển về kinh tế tạo ra sự gia tăng về của cải vật chất. Sự phát triển về chính trị tạo ra tự do, dân chủ và công bằng xã hội. Sự phát triển về xã hội tạo ra sự hài hòa, tình tương thân tương ái. Sự phát triển về dân số nâng cao tuổi thọ bình quân, nâng cao chất lượng dân số...

Thể chế là tập hợp của các thiết chế tạo ra một khuôn khổ các hành vi trong một lĩnh vực nhất định. Ví dụ, các thiết chế về quyền tài sản, về thị trường, về cạnh tranh... hợp thành thể chế KTTT. Các thiết chế về kế hoạch, chỉ tiêu pháp lệnh, phương pháp xác định giá, lương, tiền... hợp thành thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Thể chế phát triển là tập hợp tất cả các thiết chế tạo ra sự tiến bộ và những chuyển biến tích cực trong mọi mặt đời sống xã hội. Thể chế phát triển là một khái niệm hết sức rộng lớn. Trong bài viết này, tác giả chỉ cố gắng đề cập đến một vài thể chế quan trọng nhất và tập trung phân tích sâu hơn về thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN.

Trong mọi sự phát triển thì sự phát triển về mặt chính trị là quan trọng nhất. Chính vì vậy, thể chế tạo ra sự phát triển về mặt chính trị cũng quan trọng nhất. Trong mô hình thể chế của chúng ta (và có lẽ trong mọi mô hình thể chế đều như vậy), Đảng, Nhà nước, các tổ chức quần chúng nhân dân (gồm cả mặt trận và các tổ chức của mặt trận) là những thiết chế cơ bản của thể chế phát triển về chính trị. Hoàn thiện thể chế phát triển ở đây, trước hết và quan trọng nhất là tiếp tục thúc đẩy công tác xây dựng Đảng theo như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phòng, chống tham nhũng hiệu quả; phấn đấu để trang bị cho các đảng viên những tri thức hiện đại nhất về phát triển phải là nội dung cốt lõi của việc hoàn thiện thể chế.

Đối với Nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là nội dung cốt lõi của việc hoàn thiện thể chế. Quan trọng là phải thúc đẩy những cải cách cần thiết để đạt được chuẩn mực của quản trị quốc gia tốt. Các chuẩn mực đó là: Pháp quyền; minh bạch; trách nhiệm giải trình; bảo đảm sự tham gia của người dân; bảo đảm sự đồng thuận; phản ứng kịp thời; công bằng và bao trùm; hiệu lực và hiệu quả.
Đối với các tổ chức quần chúng nhân dân, quan trọng là nâng cao năng lực đại diện, năng lực thúc đẩy và phản biện chính sách, đặc biệt là những chính sách liên quan trực tiếp đến các thành viên của mình. Thực ra, nhìn từ một góc độ khác, các tổ chức quần chúng nhân dân cũng là thể chế phát triển về mặt xã hội. Nếu các tổ chức này làm tốt chức năng đại diện thì quyền lợi của các thành viên có liên quan sẽ được bảo vệ, xã hội nhờ đó cũng sẽ phát triển hài hòa và gắn kết hơn.

leftcenterrightdel

Hoạt động sản xuất tại Công ty Samsung Việt Nam, Bắc Ninh. Ảnh: NGUYỄN QUỲNH   

Trong thời đại ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của con người. Thể chế phát triển con người vì vậy cũng rất cần được coi trọng. Hai thiết chế quan trọng nhất là giáo dục và y tế. Về giáo dục, Luật Giáo dục năm 2019 đã bổ sung mục tiêu “phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân”. Với một mục tiêu như vậy, thì những cải cách tương ứng liên quan đến phương thức giảng dạy, hệ thống sách giáo khoa và hệ thống đánh giá chất lượng cũng cần phải được nhanh chóng thúc đẩy. Những cải cách này là không dễ dàng, nhưng chắc chắn là không thể thiếu.

Về y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng các dịch vụ y tế của mọi người dân là rất quan trọng. Các thể chế khác về văn hóa, về môi trường, về dân số... cũng là những thể chế phát triển cần quan tâm hoàn thiện. Tuy nhiên, ưu tiên vẫn phải là hoàn thiện thể chế phát triển nền KTTT định hướng XHCN như Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Thể chế phát triển KTTT được cấu thành từ 5 thiết chế: Quyền tài sản; thị trường; cạnh tranh; phân công lao động; hợp tác. Hoàn thiện thể chế phát triển KTTT chính là hoàn thiện 5 thiết chế nói trên.

Trước hết, quyền tài sản được cấu thành từ 4 quyền: Quyền chiếm hữu; quyền quản lý; quyền thu lợi; quyền định đoạt. Quyền tài sản là động lực của kinh tế. Không ai bỏ tiền bạc, công sức ra để trồng lúa nếu lúa trồng được lại bị tịch thu. Không ai bỏ tiền bạc, công sức ra để xây nhà, nếu nhà xây xong bị kẻ khác chiếm đoạt. Bảo đảm quyền tài sản là bảo đảm động lực để phát triển kinh tế. Quyền tài sản về cơ bản được bảo đảm rất tốt ở nước ta. Hai điểm nghẽn không lớn. Đó là sự phức tạp, khó khăn trong việc thực thi quyền tài sản đối với đất đai và năng lực yếu trong việc bảo hộ quyền tài sản trí tuệ. Để xử lý điểm nghẽn thứ nhất cần sớm sửa đổi Luật Đất đai theo hướng minh bạch hóa quy trình định giá, thu hồi, chuyển đổi đất và giám sát chặt chẽ quyền năng của các quan chức nhà nước ở đây. Để xử lý điểm nghẽn thứ hai, cần nâng cao năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật trong việc bảo hộ quyền tài sản trí tuệ và trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tài sản trí tuệ.

Thứ hai, thị trường là nơi để trao đổi hàng hóa, dịch vụ hay các quyền tài sản. KTTT về bản chất chính là việc trao đổi các quyền tài sản thông qua tiền tệ như phương tiện trung gian: Quyền tài sản đối với các sản phẩm, bất động sản; quyền tài sản đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp... Vấn đề của chúng ta không phải là có hay không quyền tự do, mà là có hay không năng lực tổ chức và vận hành thị trường. Về cơ bản các thị trường hàng hóa, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường lao động đang được tổ chức và vận hành tương đối ổn. Rất tiếc, đó chưa phải là điều chúng ta có thể nói về thị trường khoa học-công nghệ.

Tập trung xây dựng và vận hành thị trường này phải là một nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Ngoài ra, thị trường không phải bao giờ cũng vận hành hiệu quả. Cho dù không mong muốn, nhưng những thất bại của thị trường vẫn thường xuyên xảy ra. Năng lực can thiệp kịp thời khi thị trường thất bại là rất quan trọng. Ví dụ, nếu Nhà nước không có các biện pháp can thiệp kịp thời, sắp tới "bong bóng" bất động sản rất có thể sẽ hình thành. Rủi ro "bong bóng" bất động sản vỡ kéo theo khủng hoảng kinh tế là rất lớn.

Thứ ba, cạnh tranh là cơ chế thúc đẩy chất lượng và hiệu quả. Nó gần như một cơ chế chọn lọc tự nhiên để những “cá thể” khỏe mạnh hơn sẽ chiến thắng. Nhờ cơ chế này, kinh tế sẽ liên tục phát triển theo hướng đi lên. Vấn đề lớn nhất của chúng ta ở đây là chủ nghĩa thân hữu. Thắng nhờ quan hệ chứ không phải nhờ có sản phẩm tốt hơn, rẻ hơn chỉ có thể làm cho nền kinh tế phải đi thụt lùi. Tập trung chống chủ nghĩa thân hữu là rất quan trọng để bảo đảm một cơ chế cạnh tranh lành mạnh. Ngoài ra, cũng cần tăng cường đấu tranh để chống hàng nhái, hàng giả. Cạnh tranh thì phải lành mạnh, bằng không những kẻ xấu xa hơn lại có thể giành phần thắng.

Thứ tư là phân công lao động. Quy luật của kinh tế là chuyên môn hóa càng cao thì chất lượng và hiệu quả càng cao. Trong quá trình toàn cầu hóa, phân công lao động đang diễn ra không chỉ trong phạm vi từng quốc gia mà còn trên phạm vi toàn thế giới. “Một nghề cho chín còn hơn chín nghề” là sự anh minh được cha ông ta đúc kết tự ngàn xưa. Tự do lựa chọn ngành nghề trên cơ sở năng lực của từng cá nhân là rất quan trọng. Hiện nay, một phần trong lực lượng lao động trẻ được đào tạo cơ bản khá năng động. Lực lượng này luôn có ý thức lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và trình độ chuyên môn của mình. Tuy nhiên, vẫn còn một lực lượng không nhỏ các bạn trẻ chỉ thích được làm việc cho Nhà nước, cho dù công việc không phù hợp. Đây thực là một sự lãng phí về nhân lực. Tổ chức thi tuyển quốc gia để lựa chọn nhân lực công cũng là một giải pháp quan trọng.

Thứ năm, hợp tác giúp kết hợp kiến thức, kết hợp kỹ năng và kết hợp nguồn lực. Với một sự kết hợp như vậy, sức mạnh kinh tế sẽ được nhân lên gấp bội. Người Việt chúng ta hợp tác trong chiến đấu rất tốt, nhưng hợp tác trong làm ăn có vẻ khó khăn hơn. Cần đề ra một chiến lược giáo dục và truyền thông hiệu quả để phát triển phẩm chất và năng lực hợp tác của người Việt. Nhà nước cũng có thể có các chính sách khuyến khích sự hợp tác. Ví dụ, càng hợp tác được với nhiều đối tác thì một số các loại thuế, phí có thể càng giảm.

Cuối cùng, chúng ta phát triển nền KTTT nhưng theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN chính là định hướng về sự công bằng. Triết lý của thị trường là kẻ mạnh phải thắng, nhưng triết lý của chủ nghĩa xã hội là kẻ yếu phải có cơ hội. Để bảo đảm định hướng XHCN, Nhà nước phải có năng lực tái phân phối thu nhập. Không thể có công bằng xã hội nếu chênh lệch về thu nhập quá lớn như hiện nay. Quan trọng nhất là phải tìm ra giới hạn của sự tái phân phối này. Giới hạn đó là giới hạn của rủi ro triệt tiêu động lực làm kinh tế. Hay dễ cảm nhận hơn, thì cần trả lời câu hỏi sau đây để xác lập giới hạn của việc tái phân phối thu nhập: “Trong văn hóa của người Việt, Nhà nước có thể đánh thuế thu nhập đến mức bao nhiêu thì động lực sản xuất-kinh doanh vẫn không bị triệt tiêu?”.

Ngoài ra, để bảo đảm định hướng XHCN, thì công bằng về cơ hội cũng là đòi hỏi quan trọng. Trên đất nước Việt Nam, cơ hội phải được mở ra công bằng cho tất cả mọi người dân. Tất nhiên, cơ hội là một chuyện, nhưng năng lực tận dụng cơ hội là một chuyện khác. Cơ hội được mở ra công bằng cho mọi người, nhưng những người năng lực thấp hoặc không có năng lực vẫn có thể không tận dụng được. Vấn đề đặt ra là Nhà nước cần phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục và y tế để nâng cao năng lực của mỗi người dân Việt Nam và hiện thực hóa ước mơ về sự bình đẳng ở đây.

Hoàn thiện thể chế phát triển là một công việc hết sức to lớn, phức tạp, nhưng cũng hết sức quan trọng. Nhanh chóng nhận biết các vấn đề đang được đặt ra ở đây để tìm cách giải quyết là cách thức hiệu quả và thiết thực nhất để triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng liên quan đến nhiệm vụ này.

TS NGUYỄN SĨ DŨNG