Đây là bước chuẩn bị cho học sinh có một công việc để mưu sinh sau khi tốt nghiệp. Đích thân thầy Hiệu trưởng Nguyễn Duy Quy tự đi học nghề làm hương ở các doanh nghiệp rồi xin tài trợ máy móc chỉ với một câu nói: “Các anh hãy giúp cho học trò của tôi một cái nghề”...

Để học sinh khuyết tật không ngắn ngủi đường học

Từ năm 2015, Trường Chuyên biệt Tương lai (TP Đà Nẵng) có thêm lớp học C6 và C7. Đây là lớp học nối dài chưa từng có trong tiền lệ từ trước đến nay của nhà trường. Để hoàn thành chương trình tiểu học, trẻ khuyết tật trí tuệ phải mất đến 7 năm học, trong đó có 3 năm lớp 1. Vừa mong mỏi con biết nhiều hơn, tự lập hơn qua từng năm học nhưng cũng thấp thỏm ngày con hoàn thành chương trình tiểu học hoặc chạm mốc 16 tuổi sẽ phải rời xa môi trường học đường. Đó không chỉ là tâm trạng của phụ huynh mà còn là nỗi niềm của những giáo viên dạy trẻ khuyết tật trí tuệ. Không đủ khả năng để học hòa nhập ở bậc THCS trong khi chưa có chương trình dành riêng cho đối tượng học sinh này, phương án học nghề cũng không mấy khả thi nên đường học của các em thường là ngắn ngủi.

Trước đây, học sinh khuyết tật trí tuệ (KTTT) thường ra lớp muộn nên hoàn thành chương trình tiểu học thì các em đã 16-17 tuổi, đủ tuổi để học nghề tại các cơ sở dạy nghề của Hội Chữ thập đỏ. Mấy năm gần đây, phụ huynh đã chủ động đưa con đến trường học sớm hơn, độ tuổi tốt nghiệp tiểu học vì thế cũng giảm dần. Số học sinh khiếm thính còn được chuyển tiếp lên bậc THCS ngay tại trường, còn học sinh bị KTTT thì “rời trường ra thường là ở nhà”. Có rất nhiều phụ huynh, dù con đã tốt nghiệp 1-2 năm rồi vẫn về trường xin cho con học lại, bởi “các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội của các em bị mai một đi nhiều, chỉ còn giữ lại được kỹ năng tự phục vụ”.

leftcenterrightdel
Thầy Nguyễn Duy Quy (thứ hai, từ trái sang) hướng dẫn học sinh học làm hương.

Đây cũng chính là những trăn trở khi thầy Nguyễn Duy Quy nhận nhiệm vụ Hiệu trưởng tại Trường Chuyên biệt Tương lai. Thầy Quy cùng bàn bạc, động viên đội ngũ giáo viên của nhà trường tự xây dựng thêm chương trình học nối dài cho học sinh để các em có thời gian hoàn chỉnh thêm một số kỹ năng có thể ra đời tốt hơn. Năm 2015, nhà trường đưa chương trình C6 và C7 vào giảng dạy, nhận được sự ủng hộ của đông đảo phụ huynh.

Thầy Quy còn nghĩ đến giai đoạn hướng nghiệp cho học sinh để các em sống hòa nhập sau khi ra trường. Thầy hiểu rằng, với những học sinh đặc biệt của mình, được lao động, không chỉ là có thêm thu nhập để có thể tự nuôi sống bản thân mà hạnh phúc hơn cả là thấy mình được là người hữu dụng.

Hiện Trường Chuyên biệt Tương lai, với nghề làm hương, có 10 em thuộc các lớp C6-C7 có thể tự làm các quy trình từ sản xuất đến thành phẩm. Ngoài ra, có 3 em khiếm thính đang học và làm nghề nail. Ở cơ sở 1 của nhà trường (đường Trần Bình Trọng) còn có các em theo nghề rửa xe máy. Thầy Nguyễn Duy Quy cho biết: “Hiện mới chỉ có 5-10% học sinh theo học nghề. Nhà trường xác định khi các em có thể tham gia học nghề là niềm hạnh phúc, vì thành công của các em cũng chính là thành công của giáo viên chúng tôi”.

Cánh tay nâng của học sinh

Trước khi làm Hiệu trưởng Trường Chuyên biệt Tương lai dành cho học sinh câm điếc và chậm phát triển trí tuệ, thầy Nguyễn Duy Quy có một thời gian dài công tác tại Trường Phổ thông chuyên biệt (PTCB) Nguyễn Đình Chiểu, nay là Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập TP Đà Nẵng. Học chữ nổi từ chính học sinh để hòa nhập với các em trong môi trường mới, tìm mọi cách làm đồ dùng dạy học phù hợp với điều kiện học tập của học sinh, thầy giáo Nguyễn Duy Quy đã cùng các em thắp lên ánh sáng cho những đêm dài vô tận, để ước mơ không chỉ là mơ ước…

Là giáo viên chuyên trách dạy môn Toán cho học sinh khiếm thị ở Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu, thầy Quy luôn trăn trở. Để hình thành cho học sinh khiếm thị những khái niệm mới là một công việc khá phức tạp; phải có từ ngữ chuẩn theo từ điển để định nghĩa, mô tả, tìm ra dấu hiệu đặc trưng và quan trọng hơn cả là phải loại bỏ những dấu hiệu ngộ nhận. Vì thế, trong khi giảng bài, giáo viên phải truyền đạt chậm rãi, minh họa cụ thể, trực tiếp hơn, nhất là những giờ Toán có vẽ hình minh họa, các công thức, những định lý, định nghĩa.

Muốn tiết học thực sự có hiệu quả, như Hình học, theo thầy Quy, không còn cách nào khác là phải tự làm đồ dùng dạy học trong điều kiện các thiết bị sản xuất dành cho học sinh khiếm thị rất khan hiếm. Thậm chí, những khái niệm như hình tam giác, tam giác cân, vuông cân, hình bình hành, hình thoi, đường trung tuyến, trung trực, góc... với học sinh khiếm thị cũng phải làm dụng cụ trực quan thì các em mới có thể hình dung được.

Thời gian đầu, với những tiết dạy có hình ảnh để minh họa, thầy Quy vẽ hình trên các bìa cứng bằng lưới hoặc bảng braille. Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cho mỗi tiết dạy rất mất thời gian bởi cứ mỗi hình mất khoảng 3-5 phút và chỉ dùng được một lần. Để tiết kiệm thời gian và nguyên liệu, thầy Quy đã cố gắng làm ra nhiều đồ dùng dạy học như hình tam giác đa năng, tứ giác đa năng, bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học nhằm giúp các em dễ nắm bắt kiến thức và phần nào đỡ vất vả cho giáo viên. Nhưng những dụng cụ này cũng chỉ sử dụng được trong một chương, sang chương khác lại phải làm mới hoàn toàn. Mất hơn hai tháng mày mò, thử nghiệm, thầy Quy đã chế tạo ra Bảng từ dạy học môn Toán. Xuất phát từ đặc thù của học sinh khiếm thị, tất cả các mô hình phải cố định, dù là một cách tương đối, để tạo cho các em thói quen tiếp nhận. Từ đó, thầy nảy ra ý định dùng tính chất của nam châm để giữ ổn định các hình khối. Từ khi có ý tưởng làm bảng từ, như một thói quen, đi đâu thầy Quy cũng tìm hỏi nam châm để mua. Với bộ đồ dùng dạy học gọn nhẹ, phục vụ hầu hết cho chương trình học Toán ở bậc THCS và một số bộ môn khác, thầy Duy đã đoạt giải thưởng trong nhiều hội thi ở các cấp.

Thế nhưng bảng từ chỉ có tác dụng để dạy-học lý thuyết, minh họa các định nghĩa, định lý; còn khi làm bài tập, học sinh nhất định phải vẽ hình vào vở. “Nhưng vẽ hình trên bảng braille thì các em chỉ vẽ được những đường thẳng, đường ngang, còn hình tròn thì “chịu chết”; mà cũng chỉ vẽ được hình tam giác, hình vuông… chứ hình thoi thì rất mất thời gian”-thầy Quy kể. Thầy Quy đã sáng chế thêm bảng lưới và các dụng cụ lắp ghép, vẽ hình môn Toán, giúp học sinh tiết kiệm được thời gian vẽ hình, nhất là các hình tròn.

Để có được dụng cụ vẽ hình tròn này, lúc đầu, thầy Quy dùng hai thanh gỗ kẹp lại-có đục lỗ thủng để học sinh dùng bút kim loại dùi vào giấy-mô phỏng theo kiểu compa. Thế nhưng vì làm bằng gỗ nên chỉ cần các em “dùi” một thời gian ngắn, các lỗ đục sẽ to dần ra, không thể định vị được, thầy Quy lại nghĩ cách thay đổi, chuyển sang dùng inox rồi dùng nhựa để “vừa nhẹ mà các em sử dụng cũng an toàn”. Công phu hơn cả là bộ hình mẫu cho các em. “Lúc đầu mới làm quen với môn Hình học, tôi yêu cầu học sinh tự vẽ lấy để các em quen thao tác. Nhưng khi đã quen rồi thì nhất định phải có dụng cụ hỗ trợ để các em tiết kiệm được thời gian vẽ hình và còn làm bài tập khi thi cử. Chính vì vậy, tôi làm sẵn cho các em bộ hình mẫu”. Làm hình thì nhanh nhưng công phu nhất là đục chữ nổi để dán ở hình mẫu. Hình được làm bằng giấy đề can, dán vào miếng nhựa rồi đục chữ, bọc lại để học sinh có thể sờ được chữ nổi. “Đục được chữ C không thôi cũng mất cả tuần rồi, nhưng nhờ những dụng cụ này, học sinh của mình hứng thú hơn trong học tập, tạo cho các em niềm say mê với bộ môn”-thầy Quy tâm sự.

Trước khi rời Trường PTCB Nguyễn Đình Chiểu, từ chiếc gậy bình thường, thầy Nguyễn Duy Quy đã sáng chế ra chiếc gậy dò đường dành cho học sinh khiếm thị như là một món quà chia tay. Thầy đã tự mày mò, chế thêm mạch điện, lắp đặt thêm đèn LED chớp nháy và loa phát âm thanh với mục đích bảo đảm an toàn cho người khiếm thị khi sang đường hoặc di chuyển ở các ngã ba, ngã tư. Sau 3 lần thử nghiệm, thầy Quy đã có sản phẩm hoàn chỉnh với tiêu chí đơn giản về thiết kế, chi phí càng thấp càng tốt. Với cây gậy này, những học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu thuận lợi hơn khi ra ngoài mua sắm vật dụng cá nhân, đi học hòa nhập ở các trường phổ thông trên địa bàn. Nhận 800.000 đồng tiền thưởng từ giải thưởng sáng tạo, thầy Quy “sản xuất” thêm 3 cây gậy nữa cho học sinh và đồng nghiệp sử dụng.                 

Bài và ảnh: HÀ TRẦN