Những chiến sĩ như “con dao pha”, từ rà phá bom, mìn, đắp đường, làm cầu, làm thủy lợi đến dạy chữ, dạy dân trồng lúa nước, làm vườn ươm, nối thông đường thôn, bản... Ở mảnh đất miền Trung, thiên tai luôn rình rập, tiềm ẩn nhiều hiểm nguy, có thể bị thương tật, hy sinh do lở đất, lũ quét, do dò mìn, sốt rét ác tính... Người lính đều biết cả, nhưng vì tính mạng và tài sản của nhân dân, họ vẫn hết mình.

Ký ức ùa về, bài viết về công việc hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 trong những ngày đầu về đứng chân ở vùng đất này như một nén tâm nhang, tưởng nhớ những cán bộ, chiến sĩ đã quên mình vì nhân dân dù ở quê nhà, cha mẹ, vợ con họ cũng đang trong lũ dữ, đời sống còn khó khăn, vất vả, gian nan...

Buổi trưa tháng 6 mà mặt trời ở vùng đất Quảng Trị vẫn không thể tỏa nắng xuống đỉnh núi cao 1.630m nằm trên dãy Trường Sơn, thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. “Buổi sáng mù như bốc được, trưa mù loãng hơn, bay lãng đãng như những tấm voan mỏng la đà, chiều mù lại chật núi. Đêm xuống muốn ngủ ngon phải có chăn bông”-Thượng tá Phan Văn Hiếu, cán bộ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 nói với tôi khi hai anh em vừa xuống xe, lội bộ vào bản Chênh Vênh thăm một vườn ươm của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337.

Chiếc u-oát chở tôi cùng anh Hiếu bon bon trên Đường Hồ Chí Minh qua 4 xã Hướng Phùng, Hướng Lập, Hướng Sơn, Hướng Minh mới làm nên êm như ru tôi ngủ. Xe đột ngột đổi hướng, rẽ vào con đường đất đỏ đầy bụi nhưng có những điểm lầy khủng khiếp. Từ trong ngôi nhà hai tầng mới xây ở ngã ba đường, ông Hồ Đang, Phó chủ tịch UBND xã Hướng Phùng mà tôi mới quen chạy ra vẫy xe xin quá giang về bản Ma Lai, cách nhà ông khoảng một giờ xe chạy và một giờ lội bộ. Hai bên con đường nhánh này lác đác mọc lên nhiều ngôi nhà sàn mới của người Vân Kiều nằm sâu trong những vườn cây ăn quả, hay những vườn cà phê xanh tốt đang mùa quả trĩu trịt, kéo cong các cành. Toàn một giống cà phê Catimor ngon có tiếng. Ông Hồ Đang nói như quát để át tiếng xe đang cài cầu gầm rú vượt lầy: “Chúng tôi và bộ đội đều mong dự án đại tu con đường này được cấp trên phê duyệt càng nhanh càng tốt. Có đường tốt, dân sẽ giàu nhanh vì các sản phẩm cây ăn quả, cà phê và các cây công nghiệp rất phù hợp với khí hậu của vùng đất màu mỡ, giàu tiềm năng này”.

leftcenterrightdel
Cán bộ, nhân viên Đội sản xuất số 2, Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 (Quân khu 4) hướng dẫn nhân dân 
xã Hướng Linh, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị kỹ thuật chăm sóc cây cà phê. Ảnh: HUY CƯỜNG

Một tiếng đồng hồ trôi qua. Xe dừng lại ở đầu chiếc cầu treo bằng gỗ do bộ đội làm để vận chuyển vật liệu xây dựng, cây giống vào các khu chăn nuôi và vườn ươm ở cuối thung lũng này. Ông phó chủ tịch xã tạm biệt chúng tôi để vào bản nằm ngay sát đầu cầu. Tôi cùng Thượng tá Phan Văn Hiếu bước lên chiếc cầu treo, nó lắc lư như đưa võng theo nhịp chân của hai người. Anh Hiếu kể: “Xe đến đây là phải dừng lại, chúng ta sẽ đi bộ. Là lính Trường Sơn, chắc anh thạo môn đi bộ nhỉ?”, anh nheo mắt cười nhìn tôi rồi nói tiếp: “Trước đây mùa mưa, dân Vân Kiều ở bản Ma Lai bị cô lập với xã tới vài ba tháng do các con lũ triền miên gối đầu nhau không nghỉ. Bộ đội về tỏa vào các bản, đi chặt gỗ, đào đá xây dựng cây cầu này”.

Đường vào bản đầy lau lách và cỏ tranh. Mùa mưa, bộ đội đi khai hoang phải đi giày cao cổ, xà cạp tay, xà cạp chân để tránh lá cỏ tranh sắc như dao lam cứa vào da thịt gây xót không chịu nổi. Nhưng khổ nhất vẫn là nạn vắt xanh. Những con vắt nhỏ như chiếc tăm, mỏng như tờ giấy, bật nhảy như lò xo bị nén lại rồi bung ra không một tiếng động nên nó như vô hình. Mùa mưa, chúng sinh sôi hàng đàn hàng lũ, ẩn mình rồi chui vào cổ, vào người, bám vào chân, tay, vào những chỗ hở của cơ thể. Mỗi lần đi rừng về, khi thay quần áo, thấy những hòn bi tròn xanh rơi ra mới biết chúng đã “mở tiệc” no căng máu trên da thịt mình... Có chiến sĩ kể với tôi rằng, buổi tối khi mới vào đây, không hiểu ăn phải “của nợ gì” mà bị “Tào Tháo truy kích”, đành phải chạy ra rừng để “giải quyết”. Xong xuôi, yên chí về đánh một giấc đến sáng. Tỉnh dậy thấy sau quần ướt, giật mình nhìn xuống chiếu thấy nhoe nhoét máu và 8 hòn bi thịt đang động đậy, rùng mình, rũ chăn lại rơi ra dăm bảy con cũng no nê không kém.

Những người tôi gặp đầu tiên ở bản Ma Lai không phải là dân bản, người Vân Kiều mà là dân “nhập cư”-những người lính. Đó là 3 sĩ quan, chiến sĩ đang lúi húi làm việc ở một vạt đất rộng chừng vài trăm mét vuông được rào cẩn thận bằng những phên tre đan thật khéo. Đất được đập nhỏ tơi, đánh luống cẩn thận và trên đó là hàng vạn bầu đất nhỏ bọc ni lông xếp thẳng tắp cả hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo như một khối chiến sĩ trong cuộc duyệt binh. Công cụ của họ là một chiếc que to như chiếc đũa nấu nhưng dài hơn và một chiếc rá đựng hạt giống. Họ dùng que chọc vào bầu đất lẫn mùn, tra vào đó hai hạt giống keo tai tượng, keo lá tràm, thông, bạch đàn... Nhìn những thanh niên cao to, cơ bắp, đầy sức sống ngồi xổm dưới đất, di chuyển từng xăng-ti-mét, kiên trì và cần mẫn như người phụ nữ ngồi thêu những đường chỉ trên lụa để mở đầu một bức tranh đại cảnh, tôi mới hiểu được những cánh rừng bạt ngàn xanh trên mảnh đất trọc vì bom đạn, vì chất độc da cam này hồi sinh được là nhờ có họ-những người lính đi gieo màu xanh.

Tôi để ý tới chàng lính có khuôn mặt chữ điền, râu quai nón quá lứa đã xanh rì trên chiếc cằm cương nghị, trên đôi má sạm đen vì nắng và gió Lào, vì mất ngủ. Thiếu úy Tô Văn Nhuận là kỹ sư lâm nghiệp, người gốc ở đây. Nói ít, nhưng bàn tay anh chọc lỗ và tra hạt như múa: “Năm nay, đội tôi ươm bốn vạn cây keo tai tượng để trồng hơn 100ha rừng trên các triền đồi dốc còn trống ở dãy núi của bản Ma Lai. Làm cây giống không nặng nhọc nhưng phải cẩn thận và tỉ mỉ thì hạt mới nảy mầm, cây non mới phát triển được. Cây cao khoảng 25cm là phải đem trồng, nếu để quá, rễ phát triển làm vỡ bầu, vận chuyển rất khó”.

Y tá Nguyễn Vũ là người có thâm niên cao nhất ở đây. Anh vào đây từ năm 1998. Làm y tá nhưng anh kiêm nhiệm đủ việc như đánh gốc, trồng rừng, vào bản khám, chữa bệnh cho dân, đào giếng, lợp nhà và là ca sĩ “bất đắc dĩ” trong các buổi liên hoan văn nghệ với dân, với thanh niên trong bản. Anh kể: “Lúc mới vào đây, vất vả và kiên trì nhất là vận động nhân dân trong bản khi ốm phải dùng thuốc, ốm nặng phải đi viện. Theo tập tục, nhà có người ốm là dân mời thầy cúng, thầy mo, vừa tốn tiền vừa không khỏi bệnh. Chúng tôi đến từng nhà vừa giúp dân, vừa chuyện trò, vận động, hướng dẫn cách dùng thuốc. “Mưa dầm thấm lâu”, kiên trì rồi dân cũng hiểu ra, bước đầu các bệnh thông thường đã giảm rất nhiều và một năm sau thì không còn nữa”. Vui nhất là dân Vân Kiều trong bản Ma Lai đã làm chuồng trâu, bò, heo cách xa nhà, biết vệ sinh chuồng trại, biết phát quang bụi rậm quanh nhà, biết nằm màn tẩm thuốc để chống muỗi.

Nhà ở của cán bộ, chiến sĩ ở bản Ma Lai lợp lá, khung thép, trong nhà có ti vi, máy nổ và ăng ten parabol để bắt sóng của Đài Truyền hình Việt Nam nhưng bữa xem được, bữa không vì bị nhiễu. Đội trưởng, Thiếu tá Ngô Sỹ Lý thấy chúng tôi đến thì mừng lắm vì được nghe tin “nóng hổi” của đơn vị, của quê hương. Anh rủ rỉ: “Đến giờ này tôi đã trở thành “dũng sĩ” đánh gốc tre”. Rồi anh chỉ cho tôi xem hàng trăm gốc tre anh đánh được xếp gọn gàng bên vườn rau cải đang lên xanh, cạnh đó là chuồng gà rất đẹp, trong đó gần chục con gà mái đang đẻ trứng. “Chúng tôi phải tự cung tự cấp rau xanh và thịt tươi. Mùa mưa đến lại phải trữ gạo ăn trong hai tháng đề phòng những cơn lũ kéo về triền miên không dứt, cả thung lũng này mênh mông nước, chỉ nhô lên vài ngọn đồi cao”, anh Lý chia sẻ.

Nhưng mùa mưa là mùa trồng rừng. Các hố đã được các anh đào từ mùa khô. Đào hố cũng là một công việc tỉ mỉ, bắt buộc hố nọ cách hố kia 3m, đào theo kiểu “chụm chân chó” và phải bảo đảm độ sâu. Đi trồng rừng, người lính mặc như đi trận. Gùi chất đầy cây trên vai, cuốc cầm tay, cứ hai người đi một hướng. Người đi trước đặt cây, người đi sau xé bao ni lông ở bầu rồi lấp đất. Trồng hết 80 cây trong gùi lại quay về vườn ươm lấy. Trưa đến ăn vội nắm cơm vắt tòn ten bên sườn trái, uống ngụm nước chè rừng ở bi đông đeo bên sườn phải, rồi lại tiếp tục công việc lặp đi lặp lại qua ngày này đến ngày khác cho đến hết mùa mưa. Qua mùa trồng rừng, mỗi người giảm đi vài ký là chuyện thường nhưng mặt mũi, chân tay thì đầy sẹo ngang dọc vì bị cây rừng, cỏ tranh cứa phải.

Thung lũng Ma Lai rộng chừng gần 1.000ha. Khi bộ đội vào đứng chân đã có khoảng 30 hộ dân ở huyện Phong Điền (Thừa Thiên-Huế) vào khai hoang, nhưng chỉ một, hai năm khổ quá họ lại bỏ về vì không có đường-trường-trạm, nước thì thiếu vào mùa khô và vô tận trong mùa lũ. Bộ đội đến đã lác đác có người quay lại. Tôi gặp vợ chồng ông Khái, bà Nhung đang phát rẫy trồng cà phê, ông dừng tay mời chúng tôi vào nhà uống nước. Ông kể: “Các chú bộ đội Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 về đây giúp và hướng dẫn dân mọi việc, vì vậy vợ chồng tôi mới quay lại. Năm nay, nhà tôi trồng thêm 5ha cà phê, số đất còn lại chờ bộ đội đắp đập, làm thủy lợi, tôi sẽ trồng lúa nước”...

 Đứng trong sân lát gạch đỏ của ngôi nhà ông bà mới xây, Thượng tá Phan Văn Hiếu cho biết thêm về dự án đắp đập chặn dòng sông Sen, đào mương dẫn nước để trồng 50ha lúa nước trong mùa khô, bảo đảm lương thực cho bộ đội, cung cấp nước sạch cho 50 hộ dân ở bản này. Có nước, vùng triền đất thấp của bản sẽ trở thành vườn cây ăn quả với diện tích khoảng 30ha và còn lại sẽ trồng 20 cây trầm gió đã có ở vùng đất này. Năm đầu tiên, bộ đội sẽ làm mẫu 5ha lúa nước để đồng bào dân tộc Vân Kiều đến học cày bừa, chọn giống, làm cỏ, bón phân... Ông Hồ Khe, Trưởng bản Ma Lai khoe với tôi: “Bộ đội dạy dân trồng rừng, trồng lúa, dạy trẻ con học chữ, dạy dân làm vệ sinh, cấp thuốc, khám, chữa bệnh cho dân, làm cho cái đầu của dân mình sáng ra nhiều đấy. Đúng là Bộ đội Cụ Hồ!”.

Ghi chép của VŨ ĐẠT