Dự kiến cuối tháng 6-2021, những viên đá đầu tiên của kênh đào Istanbul sẽ được đặt xuống, chính thức hiện thực hóa tham vọng mà ông Tayyip Erdogan đặt ra từ khi còn là thủ tướng. Năm 2011, ý tưởng đào một con kênh song song với eo biển Bosphorus nối Biển Đen với biển Marmara rồi thông ra Địa Trung Hải lần đầu tiên xuất hiện trong cương lĩnh tranh cử tổng thống của ông Tayyip Erdogan. Với chiều rộng 150m, sâu 25m, dài 45km, tổng chi phí lên tới 13 tỷ USD, kênh đào Istanbul có quy mô chẳng kém gì kênh đào Suez (Ai Cập) và kênh đào Panama.

leftcenterrightdel
Rất có thể, kênh đào Istanbul chính là con đường ngắn nhất đến với mục tiêu tái hiện đế chế Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ.  

Xét từ góc độ kinh tế, dự án này không phải nảy sinh từ hư vô. Eo biển Bosphorus đang dần bị bồi lấp, khiến tuyến đường hàng hải được coi là nhộn nhịp nhất trên thế giới luôn quá tải. Một khi đi vào hoạt động, kênh đào Istanbul có thể bảo đảm thông thương cho khoảng 85.000 lượt tàu mỗi năm. Ngoài các khoản phí đi qua kênh, hai khu đô thị mới mọc lên dọc theo bờ kênh với các tòa nhà cao tầng và những căn biệt thự sang trọng cùng một sân bay sẽ tạo động lực mạnh mẽ giúp kinh tế Istanbul và Thổ Nhĩ Kỳ bùng nổ.

Tuy nhiên, khía cạnh an ninh, chính trị mới là vấn đề khiến nhiều nước quan ngại. Từ trước tới nay, thông thương qua eo biển Bosphorus, đặc biệt là với tàu quân sự, được điều tiết bởi Công ước Montreux. Được ký năm 1936, công ước này quy định tàu chiến nặng hơn 10.000 tấn của các nước ngoài khu vực Biển Đen không được đi qua Bosphorus. Số lượng cũng như thời gian lưu lại ở Biển Đen của các tàu chiến cũng bị giới hạn nghiêm ngặt. Các hàng không mẫu hạm và tàu đổ bộ tấn công như của Mỹ hay NATO không thể đi qua eo biển Bosphorus để vào Biển Đen.

 Nhưng mọi chuyện sẽ khác với sự xuất hiện của kênh đào Istanbul. Theo tuyên bố của ông Tayyip Erdogan, khi kênh đào này hoàn thành, eo biển Bosphorus sẽ bị đóng, đồng nghĩa với việc Công ước Montreux không còn hiệu lực. 10 năm trước đây, không ai quan tâm đến những lời hứa tranh cử vốn chẳng mấy khi trở thành hiện thực. Nhưng nay, người ta mới giật mình trước những tham vọng đằng sau ý tưởng này. Trong con mắt của ông Tayyip Erdogan, Thổ Nhĩ Kỳ phải lấy lại vai trò và tầm ảnh hưởng như đế chế Ottoman hùng mạnh trong quá khứ mà nước này là người kế thừa.

 Tồn tại trong suốt hơn 6 thế kỷ, vào thời hoàng kim, đế chế Ottoman chiếm một vùng rộng lớn tới 5,6 triệu km², trải dài suốt từ Bắc Phi qua Nam Âu đến tận Trung Á, với kinh đô là Constantinopolis, tức thành phố Istabul hiện nay. Thua trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Ottoman dần tan rã. Trên đống tàn tích của đế chế này, gần 30 quốc gia đã hình thành, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ (năm 1923).

 Thực tế thì chưa có kênh đào Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã để lộ tham vọng tái hiện đế chế Ottoman thông qua một loạt động thái của ông Recep Tayyip Erdogan, từ công khai bức ảnh chụp ông đứng trước tấm bản đồ có tên Mavi Vatan, trong đó phần lớn Biển Đen, biển Aegean và Địa Trung Hải đều chú thích thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, đến sẵn sàng đối đầu với cả Nga và Mỹ để khẳng định sức mạnh của mình. Thổ Nhĩ Kỳ từng tấn công người Kurd ở Syria dù đây là đồng minh thân cận của Mỹ trong cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng, khiến Washington tức giận đến mức đòi trừng phạt kinh tế Ankara. Thổ Nhĩ Kỳ cũng không ngần ngại đối đầu với Nga khi trợ giúp lực lượng đối lập Syria trong cuộc chiến với quân chính phủ của Tổng thống Syria Al-Assad được Moscow hậu thuẫn. Thổ Nhĩ Kỳ còn tham gia cuộc chiến tranh ủy nhiệm ở Libya, đe dọa Cyprus và Hy Lạp, gián tiếp can thiệp vào cuộc xung đột Armenia-Azerbaijan... Chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ dưới thời Tổng thống Tayyip Erdogan khiến nhiều nước láng giềng và đồng minh phải bối rối.

Nay với kênh đào Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có thêm một công cụ đầy quyền lực giúp tăng cường ảnh hưởng trong khu vực, đẩy nhanh giấc mộng đế chế, biến nước này thành trung tâm của thế giới người Turk, một dân tộc với khoảng 170 triệu người sống ở nhiều nước trên thế giới, tập trung ở Tây và Trung Á, trong đó có Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Uzbekistan... Vấn đề là bởi việc tự đào một con kênh nhân tạo cho phép Thổ Nhĩ Kỳ có một luồng ra-vào Biển Đen không chịu sự chi phối của Công ước Montreux, trong đó có quy định nhạy cảm là tàu chiến có lượng giãn nước trên 10.000 tấn của các nước ngoài khu vực không thể tự do đi vào Biển Đen.

Thoát khỏi Công ước Montreux, Thổ Nhĩ Kỳ có thể tác động đến tương quan lực lượng trong khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều vấn đề an ninh, như âm mưu của Mỹ và NATO thiết lập vòng vây xung quanh nước Nga, lợi ích an ninh của Nga trên Biển Đen và trong không gian hậu Xô viết, mục tiêu gia nhập Liên minh châu Âu (EU) của Thổ Nhĩ Kỳ, vấn đề đang bị Mỹ và một số nước châu Âu ngăn cản... Thử hỏi, Moscow sẽ phản ứng thế nào khi các biên đội tàu đổ bộ tấn công và tàu sân bay Mỹ có thể hiện diện trong vùng Biển Đen, khu vực vốn được coi là "sân sau" của Nga, nhờ sự cho phép của Thổ Nhĩ Kỳ. Nga chắc chắn cũng phải đặc biệt quan tâm đến con đường huyết mạch thông ra Địa Trung Hải để vươn tới các đại dương nếu không muốn các hạm đội của mình bị nhốt trong cái “ao làng” Biển Đen.

Với vị thế quan trọng như vậy, dễ hiểu tại sao chính quyền Erdogan nóng lòng thúc đẩy dự án kênh đào Istanbul, nhằm nhanh chóng sở hữu một đòn bẩy địa-chính trị quan trọng, có thể giúp họ mặc cả được với cả Mỹ, Nga, EU, khối NATO cùng các nước trong khu vực và xung quanh Biển Đen. Rất có thể, kênh đào Istanbul chính là con đường ngắn nhất đến với mục tiêu tái hiện đế chế Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ. 

TƯỜNG LINH