Những công trình no ấm    

Tại Sở chỉ huy Trung đoàn 720 (Binh đoàn 16), tôi được Đại tá Nguyễn Đình Tụ, Trung đoàn trưởng giới thiệu: Sau 20 năm thành lập, với bàn tay, khối óc của người lính, đến nay khu dân cư trong vùng dự án kinh tế-quốc phòng (KT-QP) Đắk Ngo đã “thay da đổi thịt”. Trung đoàn đã xây dựng Trường Tiểu học Kim Đồng gồm 8 phòng học, 2 nhà ở cho giáo viên; Trường Mầm non Hoa Ban; 4 nhà trẻ, nhà mẫu giáo thu hút hơn 300 lượt cháu đến trường mỗi năm. Đơn vị cũng đã làm chủ đầu tư hàng trăm tỷ đồng làm mới 22km đường cấp phối, 10 cầu bê tông, 15km đường điện trung, hạ thế, 8 trạm hạ thế, 17 đập nước, 2 nhà máy nước, khoan 35 giếng, 21 bể nước sinh hoạt và 1 khu vui chơi cho các cháu thiếu nhi, khu liên hợp văn hóa-thể thao… Riêng năm 2018, đơn vị đã đầu tư xây mới bệnh xá quân dân y trở thành địa chỉ khám, chữa bệnh tin cậy của người dân trong vùng…

Những công trình đó đều nhằm mục đích phục vụ tốt nhất đời sống nhân dân trong vùng dự án KT-QP, nơi có bản người Mông sinh sống.

leftcenterrightdel
Cán bộ Trung đoàn 720 thường xuyên đến thăm gia đình đồng bào Mông trong khu dự án

Ngược dòng thời gian, hơn 20 năm trước, Trung đoàn 720 nhận nhiệm vụ triển khai dự án KT-QP trên địa bàn vùng sâu xã Đắk Ngo. Lúc bấy giờ, vùng đất này hoang sơ, heo hút, rừng núi ngút ngàn khiến lòng người chênh chao, ngao ngán. Nhưng rồi, với ý chí sắt đá và quyết tâm chinh phục thiên nhiên, bộ đội Trung đoàn 720 đã từng bước đặt nền móng cho một vùng dân cư yên bình, no ấm. Chỉ 3 năm sau ngày thành lập, năm 2002, trung đoàn được giao nhiệm vụ đón và bảo đảm “an cư lạc nghiệp” cho 312 hộ, với 1.986 nhân khẩu đồng bào Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc di cư tự do, về vùng dự án của đơn vị. Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề, nhất là trong điều kiện đơn vị mới thành lập còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Số hộ đồng bào này đã di cư ở nhiều nơi, cuộc sống bấp bênh, cơ cực, đa phần không biết chữ, tập quán sinh hoạt và làm ăn lạc hậu…

Đại tá Vũ Văn Mài, nguyên Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 720, nhớ lại: “Chúng tôi thống nhất trong chỉ huy trung đoàn, cử người đến vận động bà con người Mông về bản mới, nhưng đồng bào lo lắng, nhiều người không nghe vì chẳng biết nơi ở mới có tốt hơn không. Với phương châm “4 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc), anh em mắc võng ở những nơi thuận tiện, hằng ngày vào giúp bà con dọn dẹp, hướng dẫn bà con nếp sống vệ sinh, ăn chín uống sôi, ngủ mùng tránh muỗi, kiên trì vận động. Sau nhiều ngày bền bỉ thuyết phục, bà con đồng ý về với Bộ đội Cụ Hồ”.

Hoàn thành mục tiêu ban đầu, Trung đoàn 720 tiếp tục quy hoạch hình thành 3 bản (Giang Châu, Sín Chải, Si Át) gắn với 3 đội sản xuất; thành lập tổ chức chính trị-xã hội, bầu già làng, trưởng bản… Các hộ đồng bào Mông đã được đơn vị cấp 400-700m2 đất để làm nhà, 1ha đất sản xuất và còn được tham gia nhận khoán vườn cây; hỗ trợ tiền làm nhà ở, bảo đảm lương thực, công cụ sản xuất, hỗ trợ vốn, giống và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây trồng… Một vùng quê mới đã hình thành, đánh dấu sự đổi đời của đồng bào Mông, chấm dứt tình trạng du canh, du cư, khó khăn túng thiếu. Đại tá Lê Văn Lâm, nguyên Chính ủy Trung đoàn 720, nhớ lại: Khi mới tiếp nhận, tỷ lệ bà con mắc bệnh sốt rét hơn 70%; 100% thiếu đói, trẻ em nheo nhóc, thất học… Đơn vị phải huy động lực lượng giúp dân dựng nhà, cấp phát mùng màn, hướng dẫn vệ sinh, tuyên truyền cho bà con từ bỏ tập tục lạc hậu. Cả đơn vị vừa lao động sản xuất, vừa bám dân, giữ dân ở bản mới, cường độ làm việc bất kể ngày đêm với mục tiêu nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân…

Chuyện suối Hòe

 Còn nhớ, lần đầu tiên đến Khu KT-QP Đắk Ngo, tôi được nghe người dân nơi đây kể lại câu chuyện cảm động về tình nghĩa của bộ đội đối với đồng bào Mông. Đó là câu chuyện đặt tên suối Hòe! Mùa mưa rừng năm đó, Nam Tây Nguyên mưa đổ ngang trời, nước tuôn xối xả, tưởng như có bao nhiêu nước đều dồn cả vào thung lũng Đắk Ngo. Con suối không tên vốn hiền hòa, nhỏ bé bỗng vươn mình dài rộng, nước trào dâng đục ngầu, cuộn chảy dữ dội. Chỉ trong nháy mắt, cả thung lũng đã ngập chìm trong biển nước. Đúng lúc đó, có hai ông cháu người dân tộc Mông đang vào rừng làm rẫy, vì mới về định cư chưa quen với mưa rừng Tây Nguyên nên không kịp chạy trước khi lũ quét, buộc phải run rẩy trèo lên cây đợi người giải cứu. Nhận được tin báo, Thượng tá Phạm Trọng Lập (lúc ấy là Phó trung đoàn trưởng về Chính trị Trung đoàn 720) cùng chiến sĩ liên lạc Nguyễn Văn Hòe và tổ công tác ngay lập tức đội mưa lao về nơi nước lũ. Vật lộn, vượt suối tiến về phía đồng bào gặp nạn, Thượng tá Phạm Trọng Lập đuối sức, yếu dần. Khi chiến sĩ Hòe bơi được đến gần thì chỉ nhìn thấy chỏm tóc của anh nhấp nhô theo sóng nước trong ánh chớp lập lòe. “Thủ trưởng ơi!”-chiến sĩ Hòe kêu lên thảng thốt, rồi dùng hết sức bình sinh, đánh vật với dòng nước, nhoài người theo túm được vạt áo của Thượng tá Lập kéo lên. Một mình bơi qua dòng lũ đã khó, giờ lại dìu thêm một người nên Hòe càng kiệt sức. Nhưng với ý chí quyết tâm phải nhanh chóng tới nơi đồng bào bị nạn và đưa đồng đội an toàn trở về, Hòe đã vượt qua cơn lũ, sang tới bờ bên kia. Trong cơn mê man, anh Lập vẫn thều thào: “Mặc kệ chú… cháu phải chạy đi cứu đồng bào trước đã!”… Khi cơn lũ đi qua, cảm phục tấm lòng của Bộ đội Cụ Hồ, bà con nơi đây đã đề nghị đặt tên “suối Hòe”. Từ đó, “suối Hòe” đã thành tên gọi thân thương ở bản người Mông mà mỗi khi nhắc đến ai nấy đều bồi hồi xúc động.

Thời gian dần trôi, nghĩa tình của bộ đội Trung đoàn 720 với đồng bào Mông cứ dày thêm mãi. Việc giúp dân, cứu dân, cưu mang những trẻ em đồng bào dân tộc trong lúc khó khăn đã trở thành mệnh lệnh không lời, một nét đẹp văn hóa được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 720 không ngừng vun đắp. Câu chuyện của 5 đứa trẻ người Mông thuộc xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar (Đắc Lắc) xảy ra 5 năm trước thêm một minh chứng cho nghĩa cử cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ. Sáng hôm ấy, tin chị Dương Thị Dí (31 tuổi) tự tử để lại người chồng nát rượu và 5 đứa con thơ dại, cứ theo gió núi lan rộng tới từng căn nhà người Mông heo hút. Chỉ vì mâu thuẫn do chồng thường xuyên say xỉn mà chị Dí nghĩ quẩn quyên sinh. Tiếng con trẻ thảm thiết khóc gào gọi mẹ khiến rừng xanh ủ rũ. Sự đời họa vô đơn chí, chưa đầy một tháng sau, nỗi đau lại ập xuống ngôi nhà tang thương ấy khi anh Sùng A Lư (32 tuổi, chồng chị Dí), vì quá quẫn bách không thể nuôi nổi các con, đã treo cổ tự vẫn. 5 đứa trẻ thơ dại bỗng chốc mất cả cha lẫn mẹ, bơ vơ, côi cút giữa đại ngàn. Thế rồi, nhờ thông tin trên một tờ báo, Trung đoàn 720 được Bộ tư lệnh Binh đoàn 16 chỉ đạo đón 5 đứa trẻ về nuôi. Đơn vị đã xây nhà ngay tại bản Mông, làm thủ tục pháp lý với chính quyền tỉnh Đắc Lắc, rồi đón các cháu về định cư trong tình thương yêu, đùm bọc của dân bản và các chú bộ đội. Trung đoàn còn cử người làm “bảo mẫu” chăm sóc 5 đứa trẻ, nuôi dưỡng, dạy học, dạy nghề. Bao vất vả, nhọc nhằn, đến nay, người chị đã được nhận vào làm tại đội sản xuất của trung đoàn, còn các em đang học hành chăm ngoan, khôn lớn.

Không chỉ nuôi dưỡng 5 cháu nhỏ, Trung đoàn 720 còn chu cấp lương thực, hỗ trợ tiền ăn học cho hàng chục cháu nhỏ mồ côi thuộc xã Đắk Ngo. Trong số những trẻ mồ côi ấy có 4 bé là cháu nội của già làng Giàng A Lừ. Nhớ lại những năm đau thương, cực nhọc, già làng Giàng A Lừ bộc bạch: “Đúng lúc vợ chồng tôi kiệt quệ, buông xuôi thì bộ đội Trung đoàn 720 kịp thời giúp đỡ. Những bao gạo, thùng mì gói cùng mắm, muối, bột ngọt, dầu ăn, đường, sữa… được bộ đội mang tới thường xuyên đã cứu sống cả gia đình tôi đến tận bây giờ. Bởi vậy, gia đình tôi và cả bản Mông này mang ơn bộ đội, nguyện một lòng theo Đảng, Bác Hồ, ra sức lao động xây dựng quê hương”…

Bản Mông hôm nay đã khác. Những hộ di dân năm xưa, giờ nhiều gia đình đã có ô tô, máy điều hòa nhiệt độ, sử dụng điện thoại thông minh… Bản đã có “siêu thị” với đủ loại hàng hóa phục vụ đời sống hằng ngày. Đói nghèo, lạc hậu đã lùi xa vào dĩ vãng. Đúng như lời bày tỏ của Trưởng bản Sín Chải (xã Đắk Ngo) Giàng A Vảng, thành quả đó có công rất lớn của bộ đội Trung đoàn 720. Không chỉ giúp đỡ đồng bào có chỗ ở, việc làm, ổn định cuộc sống; chăm lo phát triển an sinh xã hội nơi đóng quân, Trung đoàn 720 còn là chỗ dựa vững chắc, là ân nhân mang lại cuộc đời mới cho đồng bào Mông ở cuối dãy Trường Sơn.

Bài và ảnh: CHÂU GIANG