Ngôi nhà lớn này như được bao bọc trong một thế giới riêng, tách biệt với ngoài kia, tức là với internet và smartphone của chúng ta. Đứng ở khoảng sân nhỏ lát đá, không gian chật hẹp, tối, có cảm giác như đang đứng trong không gian của một game ảo, hoặc là nhân vật của một bộ phim tư liệu mà bạn thì đứng yên còn cả thế giới cứ việc thay đổi, xoay vần, trôi đi.

Đây là một ngôi nhà cổ, có lẽ là cổ bậc nhất trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang). Nó được cho là xây dựng trước cả dinh thự họ Vương ở Sà Phìn và là bản gốc của phong cách kiến trúc giao thoa giữa Mông và Hoa Nam. Toàn bộ tòa nhà được chia làm 3 khu vực, gồm 3 ngôi nhà sàn gỗ ghép lại với nhau với những cầu thang riêng để có thể đi từ tầng một lên tầng hai từ bên trong nhà hoặc từ ngoài hiên nhà.

Điều đáng nói nhất là từ các viên đá kê chân cột cho đến từng ô cửa sổ nhỏ, xà nhà, cột kèo... tất thảy đều được chạm khắc vô cùng tỉ mỉ. Nó tỉ mỉ tới nỗi người ta nói rằng để hoàn thiện ngôi nhà ấy, hàng vài chục, hàng trăm con người phải làm liên tục trong suốt 8 năm trời. Hình ảnh anh túc xuất hiện ở khắp nơi. Những quả anh túc tròn trĩnh như thể chỉ cần khứa một nhát nhẹ là nhựa sẽ tứa ra. Cao nguyên đá Đồng Văn trong lịch sử từng là “vương quốc” của thuốc phiện. Nhà nào càng giàu, gia thế càng lớn thì thuốc phiện càng nhiều. Người giàu sử dụng thuốc phiện như một cách hưởng thụ. Đã giàu càng giàu nhờ vào trồng, thu hoạch, buôn bán thuốc phiện. Những bức tường, cánh cửa, mái ngói... đều có màu như màu ám khói, và thậm chí tôi hình dung là trong đó có cả khói thuốc phiện.

leftcenterrightdel
Nhà họ Vừ đã xuống cấp.

Những căn nhà như thế này ngày một hiếm, rồi sẽ có ngày nó biến mất. Nó đang xuống cấp một cách tồi tệ. Những bức tường trình tróc lở, những thanh xà mục gãy, những đầu đao sứt mẻ. Thời gian trôi qua lâu đến mức cả những họa tiết chạm khắc trên đá cũng mòn đi, trơn nhẵn đi.

Một ông lão chừng ngoài bảy mươi tuổi đang ngồi chơi với lũ cháu trên sân một ngôi nhà nhỏ, nằm ở gần trung tâm của thôn Há Súng, mà từ đấy đi lên đến đỉnh núi nơi có ngôi nhà cổ phải đến 5-7 trăm mét đường dốc quanh co. Ông lão là Vừ Chúng Dình, một trong những hậu duệ của nhà họ Vừ. Ông nói tiếng Kinh khá lưu loát, dễ hiểu, tuy giọng nói vẫn mang nguyên âm điệu của tiếng Mông. Ông bảo, vốn dĩ ngôi nhà này do hai anh em trai-tổ tiên của ông-cùng xây dựng. Hai anh em ấy mỗi người lấy 5 bà vợ. Mỗi bà vợ lại sinh vài đứa con. Thế nên có lúc trong nhà có đến mấy chục thanh niên. Nhà to thế nhưng toàn người là người.

Cho đến hiện nay thì trong ngôi nhà ấy vẫn còn đến 6 gia đình cùng sinh sống, đều là anh em nhà họ Vừ. Bà lão ngồi trong cái không gian như phim điện ảnh hay câu chuyện cổ tích này có lẽ là một trong số các cháu dâu. Tiếc là chẳng hỏi bà được câu nào. Tặng bà ít tiền thì bà nhận, mỉm cười rồi lại cắm cúi làm việc. Cái mẹt nhựa màu đỏ cứ chói gắt lên trong không gian u tịch tối sẫm. Gương mặt đẹp đẽ của bà nấp dưới tấp khăn cũ sáng lên ấm áp. Tôi rất thích ngắm những bà lão đẹp. Cái đẹp hồi quang của một tuổi thanh xuân rạng rỡ, cái đẹp của cuộc đời chân thành và giản dị, của tuổi già phúc hậu, hiền từ. Ngay cả những nếp nhăn cũng đẹp, nó tuần tự, lớp lang trên làn da mịn màng rất ít đồi mồi. Ngắm bà, tôi hình dung thấy một thiếu nữ Mông tươi tắn, căng nở, quyến rũ như một bông hoa đẹp nửa thế kỷ trước. Giờ thì tất cả đã ở lại phía sau. Thời gian thật kỳ lạ. Nó cất giữ và mãi mãi không bao giờ trả lại những gì đã từng hiện diện, đã từng diễn ra. Nó đôi khi chỉ để lại cho các thế hệ tiếp nối những dấu ấn mà phải thật để ý mới nhận ra. Ví như là cái bồn tắm sữa dê vẫn để ở chân hè nhà đây. Chiếc bồn tắm có hình bán nguyệt, được đục từ đá nguyên khối, và hiện giờ chỉ để không, chẳng dùng vào việc gì. Vài thứ áo quần, dây nhợ vắt tạm lên mép của nó. Không biết bao nhiêu người phụ nữ đẹp như bà lão kia đã từng được tắm trong chiếc bồn tắm ấy. Nó quá to và quá nặng để di chuyển, nó cũng không phải là thứ mà người ta có thể mang bán lấy tiền, lại cũng không thể dùng để đựng cái gì. Và vì thế mà cái bồn tắm đầy dấu ấn quý tộc kia cứ tồn tại như một vật chứng, ngày qua ngày, tháng năm qua tháng năm, xuyên qua hai thế kỷ, vẫn cứ yên vị ở đấy.

leftcenterrightdel
Bà lão trong nhà họ Vừ.

Nhà Vừ ở Lũng Táo và nhà Vương ở Sà Phìn đều được xây bởi một nhóm thợ đến từ Hoa Nam, Trung Quốc và cùng xây dựng trong khoảng thời gian hơn 8 năm. Về mặt kiến trúc, nhà họ Vương và nhà họ Vừ khá giống nhau. Cùng một lối kiến trúc “đại bàng tung cánh”, cùng một địa thế đất hình mu rùa và mặt tiền nhìn ra thung lũng. Đây là địa thế hoàn hảo theo quan niệm phong thủy địa lý của người Mông. Hai nhà chỉ khác nhau ở quy mô. Nhà Vương tòa ngang dãy dọc, tiền dinh hậu dinh mênh mông huy hoàng, nhà Vừ khiêm tốn hơn nhưng vẫn cho thấy một quá khứ giàu có, mà chắc chắn những người dân lao động thuần túy không thể nào có được.

leftcenterrightdel
Các thanh xà trong nhà họ Vừ đã nứt nẻ.
leftcenterrightdel
Một góc lan can nhà họ Vừ.

Theo tài liệu, nhà Vương được xây dựng năm 1919 và hoàn thiện vào năm 1928. Còn nhà Vừ được xây trước đó, tức là chí ít thì nó cũng đã phải 100 tuổi trở lên. Có điều nhà Vương đã được công nhận là di tích quốc gia từ năm 1993, trở thành một trong những điểm dừng chân không thể thiếu của khách du lịch. Hiện giờ, con cháu cụ Vương Chính Đức không sinh sống tại đó mà chỉ có khách tham quan ra vào. Nhà Vương cũng được tu bổ, gìn giữ cẩn thận nên còn rất đẹp đẽ, vững chãi. Còn nhà họ Vừ thì gần như không được tu bổ. Nó bị quên lãng, nằm yên ắng quạnh quẽ trên đỉnh một ngọn đồi với lối đi lên hai bên xanh mướt cỏ voi và những bụi ngô mập mạp sắp được thu hoạch. Người già qua đời, trẻ con cất tiếng khóc, không ai biết rõ ngôi nhà này đã từng có bao nhiêu thành viên, nhưng hẳn là phải rất đông. Cứ tự nhiên sinh ra, mất đi, nối dài sợi dây dòng họ, kéo dài tuổi thọ của ngôi nhà, cho dù nó lúc nào cũng nhăm nhăm như muốn gục xuống vì quá già nua.

Ngày tháng đang qua đi, chưa biết chúng ta còn được ngắm ngôi nhà với những bậc thang đá chạm khắc cầu kỳ ấy được bao lâu nữa. Bảo tồn một ngôi nhà có thể với ai đó là chuyện nhỏ, nhất là khi nó thuộc sở hữu tư nhân. Chỉ khi nào người ta thực sự nhận ra rằng chân dung của rất nhiều thế hệ trong một vùng văn hóa lớn đều đang nằm ở đây, vô cùng sinh động, sống động, thì có lẽ khi đó nó mới được bận tâm. Chỉ e rằng, đến lúc ấy thì cũng muộn.

Ghi chép của ĐỖ BÍCH THÚY