Chuyện người vỡ đất

Ở xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, người ta gọi ông Nguyễn Khắc Kế, nguyên cán bộ Nông trường Quốc doanh Điện Biên, là “kho sử sống” về nông trường. Người làng thường kể về ông với nhiều chuyện mới nghe thôi đã lạnh sống lưng, nhưng cũng rất đỗi kính phục như chuyện ông lái xe bánh xích phá bom mìn, cày bom nổ mà không chết… Ông Kế năm nay đã bước sang tuổi 86 nhưng rất khỏe mạnh, hằng ngày ông vẫn đi xe máy hàng chục cây số đưa đón cháu đi học. Ngay từ phút đầu gặp gỡ, ông đã rất sôi nổi kể với chúng tôi về chuyện cũ.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Khắc Kế kể về kỷ vật là vỏ quả mìn nhảy.

Sau khi tham gia Chiến dịch Thượng Lào, tháng 7-1954, ông cùng đồng đội ở Trung đoàn 176, Sư đoàn 316 về hội quân tại huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1957, đơn vị ông được lệnh hành quân ra Phú Thọ. Đến năm 1958 lại được lệnh hành quân lên Bất Bạt-Sơn Tây (nay là thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội). Ông Kế nhớ lại: “Ra đến Bất Bạt-Sơn Tây, đơn vị chúng tôi được đón Bác Hồ về thăm. Buổi gặp mặt hôm đó, Bác nói: Bác thay mặt Trung ương cử đơn vị các chú lên Điện Biên làm nhiệm vụ, các chú có đồng ý không? Những lời dặn dò ân cần của Bác làm nhiều người trong chúng tôi bật khóc, trong lòng trào dâng một niềm tin, sức mạnh khó tả. Ai cũng muốn sớm lên Điện Biên thi đua xây dựng miền đất mới giàu đẹp như mong mỏi của Bác”.

Kết thúc buổi gặp mặt hôm ấy, Bác còn tặng cán bộ, chiến sĩ đơn vị mấy vần thơ thay lời huấn thị: “Đá rắn, quyết tâm ta rắn hơn đá/ Núi cao, chí khí ta còn cao hơn/ Khó khăn ta quyết tâm vượt cho kỳ được/ Gian khổ không thể làm lòng ta sờn/ Đảng phái ta lên mặt trận sản xuất/ Nhiệm vụ ấy ta quyết làm cho tròn/ Đội ơn đào tạo người quân đội/ Quyết chí đền bồi nghĩa nước non”. Trước khi dừng lời, Bác căn dặn thêm: Xây dựng nông trường là công việc mới mẻ, phải đoàn kết tốt trong đơn vị và địa phương, phải biết chọn giống má, cây, con phù hợp với đất đai. Quả thực, với ông Kế và các đồng đội khi ấy, cụm từ “xây dựng nông trường” là quá mới mẻ và nhiều bỡ ngỡ. Nhưng với niềm tin vào chiến thắng, vào lời căn dặn của Bác nên ai cũng hăng hái lên đường...

Đứng trên đồi D1, trước Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, thu vào tầm mắt cả cánh đồng Mường Thanh rộng lớn và khu vực lòng chảo Điện Biên, ông Kế cho biết: “Sau gần một tháng hành quân bộ, đến ngày 11-4-1958, Trung đoàn 176 đã có mặt tại Điện Biên bắt tay vào xây dựng doanh trại. Theo quyết định của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 8-5-1958, Trung đoàn 176 tổ chức lễ ra mắt Nông trường Quân đội Điện Biên gồm 1.954 cán bộ, chiến sĩ. Mỗi đại đội của trung đoàn là một đơn vị sản xuất được bố trí xen kẽ ở các xã, bản thuộc khu vực lòng chảo Điện Biên và hai đại đội được bố trí ở khu vực Mường Ảng. Các đơn vị sản xuất của Nông trường Quân đội vẫn gọi là C”. Ở phía bắc TP Điện Biên Phủ ngày nay là C13, C7, C1. Phía đông thành phố, vị trí Trường Chính trị tỉnh Điện Biên ngày nay là C8. Bên sông Nậm Rốm là C12, C11, C10, C6, C5 và Trung đoàn Bộ ở bản Bom La, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên. Xung quanh lòng chảo Điện Biên có C7, C4 nay thuộc xã Thanh Hưng…

Ngày ông Kế và các đồng đội mới lên, lòng chảo Điện Biên còn là vùng đất hoang tàn, mang trong mình nhiều vết cày xới của chiến tranh, bom đạn, mìn chưa nổ còn rất nhiều, tiềm ẩn nguy hiểm. Ông Kế ở C5, nhưng ông được đi nhiều C vì đến ngày 22-12-1960, Nông trường Quân đội chính thức làm lễ hạ sao, đổi tên thành Nông trường Quốc doanh Điện Biên, ông Kế chuyển ngành học lái máy kéo. Chuyện vỡ đất của ông Kế gắn với kỷ niệm theo ông suốt cuộc đời. Một lần ông lái đầu kéo, phía sau là ông Lê Chư lái máy cày ở khu vực sân bay Điện Biên, lưỡi cày cắm vào mìn, nổ lật cả lưỡi cày. Vụ nổ không gây thương vong nhưng máy móc bị hư hỏng, tâm lý mọi người trong nông trường rất hoang mang. Sau nhiều lần đấu tranh tư tưởng, ông Kế đề xuất với cấp trên cho mình lái xe bánh xích để “trần mìn” làm sạch đất. Ban đầu đề xuất của ông không được chấp thuận, nhưng với sự quyết tâm và sự an toàn của công nhân nông trường nên ông nhận được sự đồng ý của trên. Lấy cho chúng tôi xem vỏ quả mìn nhảy, ông Kế bảo: “Suốt những năm cày vỡ đất, phá hàng trăm quả mìn, giờ tôi còn giữ lại vỏ một quả mìn này, tặng nhà báo làm kỷ niệm”. Nhận món quà của ông Kế, chúng tôi rất xúc động. Khi chúng tôi còn đang ái ngại trước kỷ vật quý thì bà Phan Thị Hưng, vợ ông Kế bước đến chia sẻ: “Ngày trước, vỏ mìn loại này quý lắm, gia đình tôi mang về đánh sạch lớp gỉ bên ngoài làm lọ hoa. Giờ nhớ lại kỷ niệm về một thời khó khăn mà ứa nước mắt nhưng cũng rất tự hào”. Bà Hưng quê ở Thái Bình, năm 1959, bà viết đơn tình nguyện rời quê hương lên xây dựng Điện Biên. Tại quê hương mới, bà đã gặp ông Kế rồi nên duyên vợ chồng và trở thành một trong những cặp đôi đầu tiên của nông trường ở lại xây dựng Điện Biên đến ngày nay.

Ở ngôi làng C4

Sau những biến đổi của thời gian, TP Điện Biên Phủ giờ đây đã phát triển mạnh mẽ, nhưng nhiều ngôi làng vẫn giữ lại phiên hiệu C từ thời nông trường như một niềm tự hào. Dẫn chúng tôi đến thăm Nhà văn hóa thôn C4, xã Thanh Hưng, cựu chiến binh Ngô Minh Tuấn hào hứng: “Nhà văn hóa thôn C4 to đẹp nhất xã. Đó là kết quả đóng góp của người dân và hậu duệ đời thứ hai, thứ ba của thôn cựu chiến binh”. Ông Tuấn gọi thôn C4 là thôn cựu chiến binh, bởi 1/3 hộ dân đều có người từng là lính Điện Biên, cựu chiến binh chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, những người lính ở lại xây dựng kinh tế, xã hội vùng Tây Bắc và chọn mảnh đất này để lập thôn, lập làng. Hiện nay, ở xã Thanh Hưng còn 13 cựu chiến binh từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ thì ở thôn C4 có 10 người. Ông Tuấn khoe: “Bố tôi, ông Ngô Bá Nhẽ và cả bố vợ tôi đều là lính Điện Biên, đánh đồi A1. Sau chiến dịch, bố tôi ở lại xây dựng Điện Biên. Đến năm 1959, ông về quê đón mẹ con tôi ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương lên xây dựng vùng đất mới”. Nghe cuộc trò chuyện, vợ ông Tuấn là bà Bùi Thị Biên góp chuyện: “Bố tôi là Bùi Quang Thung, quê tôi ở huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng. Sau khi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, năm 1958, bố tôi về quê lấy vợ và đưa cả nhà lên xây dựng Điện Biên”. Ông Tuấn và bà Biên là thế hệ thứ hai của những cựu chiến binh xây dựng Điện Biên. Khi còn nhỏ, họ hay thắc mắc vì sao quê mình ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng trù phú mà bố mẹ lại chuyển lên miền núi xa lắc để sống. Và họ đều nhận được lời giải thích từ bố mẹ của mình rằng: “Điện Biên là vùng đất lịch sử thấm đẫm máu xương của rất nhiều đồng đội. Trách nhiệm của những người còn sống là làm cho Điện Biên xanh tốt, giàu có để không uổng phí sự hy sinh của những người đã ngã xuống”. Điều giản dị đó giờ đã ăn sâu vào tâm trí của những người thế hệ thứ hai, thứ ba… ở Điện Biên. Năm 1979, khi đó ông Tuấn đang là công nhân xí nghiệp cơ điện của huyện cũng viết đơn tình nguyện đi chiến đấu. Sau đó, ông đi học sĩ quan, về công tác tại Huyện đội, rồi Tỉnh đội Điện Biên. Năm 1990, ông Tuấn giải ngũ về địa phương làm Bí thư chi bộ thôn hơn 10 năm, giờ ông là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh thôn C4. Dù ở cương vị nào, ông cũng đóng góp tích cực xây dựng thôn xóm, được người dân quý mến, tin tưởng.

leftcenterrightdel
Ông Trương Duy Súy (bên trái) và ông Ngô Minh Tuấn tại cổng làng C4, xã Thanh Hưng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Sau cuộc trò chuyện, chúng tôi cùng ông Tuấn đến thăm các cụ lão thành đã từng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ ở thôn C4. Các ông hiện đã gần hoặc hơn 90 tuổi. Được gặp, trò chuyện, nghe các bậc lão thành kể chuyện Điện Biên là điều may mắn với thế hệ trẻ. Tuy vậy, trong số các bậc lão thành chúng tôi gặp, hầu hết mắc các bệnh của tuổi già, khi nhớ khi quên. Minh mẫn nhất trong số đó là ông Trương Duy Súy, năm nay cũng đã bước sang tuổi 90. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông là lính pháo binh, chiến đấu ở đồi Mâm Xôi (cao điểm 473) sát chân đồi C1. Sau khi giải phóng Điện Biên, ngày 19-5-1954, ông Súy được kết nạp Đảng vì có thành tích chiến đấu xuất sắc. Theo lời ông Súy, không biết từ bao giờ, Điện Biên đã trở thành máu thịt và được ông coi là quê hương thứ hai của mình. Năm 1958, ông về quê ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên đưa vợ lên xây dựng vùng đất này. Anh Trương Duy Bình, con trai cả của ông Súy, sinh năm 1958 là một trong những đứa trẻ sinh ra đầu tiên ở Nông trường Quân đội Điện Biên. Anh Bình nhớ lại ký ức tuổi thơ: “Lên 10 tuổi tôi đã theo bố mẹ tham gia lao động ở nông trường. Lúc rảnh rỗi cùng đoàn thanh niên đi cổ vũ mọi người lao động. Ngày đó, nông trường có rất nhiều phong trào thúc đẩy lao động sản xuất như: “Giặc đến ta đánh, giặc đi ta sản xuất”, “Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”; “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”… Công nhân nông trường hưởng ứng rất tích cực, có người chỉ nặng hơn 40kg nhưng gánh lúa nặng hơn 90kg, người làm phân xanh có ngày cắt được hơn một tấn. Ngày đó đói lắm, chủ yếu là ăn cơm độn sắn, ngô nhưng khí thế lao động lúc nào cũng hừng hực”. Khi lớn lên, anh Bình được nông trường cho đi học và công tác 36 năm trong ngành giáo dục cho đến khi nghỉ hưu.

Tạm biệt Điện Biên trong một ngày nắng như tấm lụa vàng mỏng choàng lên thành phố và hoa được trang hoàng rực rỡ, chúng tôi cảm nhận sức bật phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh đang vươn lên rất mạnh mẽ. Trong chiếc áo tiện nghi, hiện đại đó, Điện Biên vẫn còn cất giữ những viên ngọc quý về nhân vật, câu chuyện viết nên trang sử vàng chói lọi của dân tộc. Đó là niềm tự hào sống mãi với thời gian.

Bài và ảnh: PHẠM VĂN TUẤN