Biến đổi khí hậu liên quan mật thiết tới mất cân bằng sinh thái

Phóng viên (PV): Việt Nam được đánh giá là quốc gia có đa dạng sinh học cao nhưng đang đứng trước nguy cơ suy thoái mạnh. Thực trạng này như thế nào, thưa ông?

PGS, TS Lưu Thế Anh: Việt Nam là một trong 16 nước có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao trên thế giới ở 3 cấp độ sinh thái, loài và nguồn gen. ĐDSH của Việt Nam đóng vai trò hết sức quan trọng cho phát triển bền vững đất nước, đóng góp to lớn cho nền kinh tế-xã hội và bảo đảm sinh kế cho người dân. Những năm qua, Việt Nam đã tham gia tích cực các điều ước quốc tế về ĐDSH (Công ước RAMSAR, CITES); ban hành các luật, kế hoạch hành động quốc gia, chiến lược quốc gia về ĐDSH… Bảo tồn ĐDSH đã có những chuyển biến tích cực và mang lại những hiệu quả rõ rệt nhưng tình trạng suy thoái và mất ĐDSH vẫn tiếp diễn với tốc độ nhanh, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Điều đó thể hiện rõ khi các hệ sinh thái (HST) tự nhiên, nhất là HST rừng, đất ngập nước, rạn san hô, thảm rong cỏ biển, núi đá vôi, bãi bồi cửa sông ven biển,… tiếp tục bị tàn phá và chia cắt, thu hẹp diện tích, xuống cấp nhanh về chất lượng; làm chia cắt và thu hẹp sinh cảnh của các sinh vật hoang dã; các loài quý hiếm ngày càng suy giảm và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao.

Thời gian qua, nhiều chi, loài mới được phát hiện nhưng các loài này lại đối mặt với những nguy cơ rất lớn, số loài cần được ưu tiên bảo vệ gia tăng. Đến năm 2017, Việt Nam đã xác định 1.211 loài động thực vật hoang dã trong tự nhiên bị đe dọa và đề xuất đưa vào Sách đỏ Việt Nam thời gian tới, gồm 600 loài thực vật và 611 loài động vật (tăng 329 loài so với Sách đỏ Việt Nam 2007), khoảng 100 loài thực vật và gần 100 loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

leftcenterrightdel
PGS, TS Lưu Thế Anh. Ảnh: THU HÒA

PV: Thưa ông, có phải mất cân bằng sinh thái, suy giảm ĐDSH cũng là một nguyên nhân tác động đến biến đổi khí hậu?

PGS, TS Lưu Thế Anh: Hiện nước ta có 172 khu bảo tồn với tổng diện tích gần 2,5 triệu ha. Những năm qua, số lượng khu bảo tồn của Việt Nam tăng lên. Nhưng thực tế đã cho thấy, ĐDSH tiếp tục suy thoái, chức năng phòng hộ của hệ thống rừng đầu nguồn đã suy giảm mạnh. Điều này được minh chứng rõ trong hai thập kỷ qua, khi các loại hình thiên tai như lũ ống, lũ quét, trượt lở đất, sạt lở đất, ngập úng, lũ lụt, xâm nhập mặn, hạn hán, cháy rừng,... diễn biến bất thường không theo quy luật, khó dự báo, ngày càng gia tăng cả về tần suất, quy mô và cường độ tác động. Đây trở thành nguy cơ rất lớn cản trở mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh môi trường nói chung và ĐDSH nói riêng.

Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan có liên quan mật thiết đến sự mất cân bằng sinh thái, mất rừng và mất ĐDSH. Ngoài là nơi tập trung ĐDSH cao, hệ thống rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên có chức năng đặc biệt quan trọng, không có gì thay thế được, đó là chức năng phòng hộ, điều hòa khí hậu, điều tiết dòng chảy, lưu giữ nước mưa, bổ sung nước ngầm, cung cấp dòng chảy cho các sông, suối vào mùa khô, lưu trữ lượng khổng lồ các-bon. Khi bị tàn phá và suy thoái mạnh thì các chức năng phòng hộ này sẽ suy giảm mạnh, mất chức năng điều tiết dòng chảy, vì thế khi có mưa xuống dễ xảy ra lũ lụt, trượt lở đất và lũ ống, lũ quét; nguồn nước ngầm không được bổ cập đủ lượng nước, nên vào mùa khô thiếu hụt dòng chảy ở hạ lưu, gây ra tình trạng hạn hán và xâm nhập mặt vào sâu trong đất liền.

Mấy năm trở lại đây, chúng ta chứng kiến thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn ở vùng đồng bằng ven biển gia tăng nghiêm trọng, một trong những nguyên nhân chính là do mất cân bằng sinh thái, mất rừng phòng hộ ở thượng nguồn gây ra. Tất nhiên, bên cạnh đó cũng do việc xây dựng ồ ạt các hồ thủy điện trên thượng nguồn các lưu vực sông.

Tình trạng mất rừng và suy thoái rừng, suy thoái các HST đất ngập nước, thoái hóa đất và hoang mạc hóa,… đã góp phần làm gia tăng lượng phát thải khí nhà kính (chủ yếu CO2), làm gia tăng nhiệt độ và tình trạng nóng lên của trái đất.

Dự đoán thời gian tới, chúng ta sẽ còn chứng kiến sự gia tăng tính cực đoan của thời tiết và các thiên tai nhiều hơn. Chính những điều đó lại tác động tiêu cực đến an ninh môi trường và ĐDSH của Việt Nam.

leftcenterrightdel
Trồng cây, bảo vệ rừng góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Ảnh: PHẠM HÒA TIÊN

Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ

PV: Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chính là một ví dụ, thưa ông?

PGS, TS Lưu Thế Anh: Sông Mê Công là một trong những sông xuyên biên giới lớn nhất thế giới với diện tích lưu vực khoảng 795.000km2, tổng dung lượng nước hằng năm khoảng 475 tỷ m3. Tuy nhiên, lượng nước phân bổ không đồng đều theo không gian và thời gian. Trong tổng lượng nước hằng năm, Việt Nam chiếm khoảng 11% (từ hệ thống sông Đồng Nai và sông Sêrêpok). Theo các số liệu khí tượng thủy văn, lượng nước đổ về ĐBSCL giai đoạn 2015-2019 thấp kỷ lục, gây nên những đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong gần 100 năm qua. Hạn hán ở ĐBSCL càng thêm khốc liệt khi nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó, tác động của El Nino cực đoan và những tác động tích lũy của các công trình thủy điện ở thượng lưu sông Mê Công được coi là những nguyên nhân chính. Bên cạnh hệ thống công trình thủy điện lớn của Trung Quốc ở thượng nguồn và 12 đập thủy điện đang, sẽ được xây dựng trên dòng chính dưới hạ lưu, các kế hoạch lấy/chuyển nước sông Mê Công để tưới, mở rộng canh tác nông nghiệp của các quốc gia trong lưu vực đang đặt ĐBSCL của Việt Nam vào những nguy cơ nghiêm trọng. Trong khi đó, Việt Nam cũng xây dựng nhiều thủy điện trên thượng nguồn sông Đồng Nai và sông Sêrêpok (11 nhà máy đã hoạt động, một số nhà máy đang và sẽ xây dựng). Cùng với đó, diện tích các đầm chứa nước ngọt và hồ chứa bị suy giảm mạnh không giữ được nước vào các thủy vực này để trữ cho mùa khô. Trong bối cảnh thiếu nước, chúng ta lại tiếp tục mở rộng các lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều nước như trồng lúa nước, nuôi thủy sản nước ngọt.

Như vậy, cùng với nguyên nhân khách quan bên ngoài lãnh thổ, chính chúng ta cũng đang không chủ động quản lý hiệu quả, khai thác và sử dụng hợp lý nước trên địa phận nước mình. Cùng với điều kiện tự nhiên không thuận lợi, các tác động tiêu cực của con người đã làm cho thiên tai hạn hán càng trở nên khốc liệt hơn.

Tình trạng hạn hán nghiêm trọng ở khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận cũng ngoài do điều kiện tự nhiên (lượng mưa thấp, địa hình ngắn và dốc, bức xạ mặt trời lớn) thì còn có nguyên nhân là việc các HST rừng ở thượng nguồn bị tàn phá, nguồn nước của các sông không được khai thác hợp lý.

Cần một triết lý phát triển bền vững

PV: Theo ông, chúng ta cần giải pháp gì cho tình trạng này?

PGS, TS Lưu Thế Anh: Trước tiên, cần xác định thích nghi, sống chung với điều kiện đó, bằng cách chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tiếp cận nền kinh tế tuần hoàn, kinh tế ít phát thải, kinh tế các-bon thấp, kinh tế xanh để thích ứng với các điều kiện thay đổi đó; chuyển các thách thức thành cơ hội bằng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, sử dụng các loại giống cây trồng, vật nuôi chịu mặn, chịu hạn, tiêu thụ ít nước, đồng thời đưa vào công nghệ tiên tiến để xử lý tuần hoàn, tái sử dụng nước trong các lĩnh vực sản xuất và đời sống hằng ngày; tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn mang tính đột phá để tạo giá trị gia tăng thông qua chuỗi liên kết sản xuất.

Nước ta xuất khẩu gạo đứng trong tốp 3 thế giới, kim ngạch xuất khẩu trung bình đạt 2,0-2,5 tỷ USD mỗi năm nhưng chúng ta lại chi cho nhập phân bón, thuốc bảo vệ thực vật rất lớn. Vậy trồng lúa có thực sự mang lại hiệu quả trong khi an ninh nguồn nước không bảo đảm, tình trạng suy thoái chất lượng đất gia tăng, sức khỏe đất bị suy giảm mạnh do thâm canh bằng phân bón hóa học và hóa chất độc hại?

Cùng với đó, cần có giải pháp khôi phục và phát triển lại các hồ, đầm chứa nước ngọt để giữ nước mùa mưa cung cấp cho mùa khô, bổ cập nguồn nước ngầm bằng nước mưa.

PV: Đó là những giải pháp cụ thể, trước mắt. Còn về lâu dài, chúng ta cần giải pháp tổng thể ra sao để phát triển bền vững?

PGS, TS Lưu Thế Anh: Tất cả các vấn đề về môi trường hiện nay chúng ta đang phải đối mặt, trước hết xuất phát từ chính cách con người ứng xử thiếu công bằng với tự nhiên, bắt đầu nảy sinh từ sau cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, tiếp tục gia tăng trong suốt thời gian qua và đến nay đã tới mức báo động, đe dọa đến sự tồn vong của trái đất. Để giải quyết những vấn đề này trong chiến lược lâu dài, cần phải đổi mới tư duy và quan điểm hành động; chuyển đổi các mô hình phát triển kinh tế-xã hội nhất quán dựa trên tư duy và đạo đức sinh thái trong bối cảnh hội nhập và biến đổi toàn cầu. Quan điểm tôn trọng và chung sống hài hòa với tự nhiên, phát triển dựa trên HST (phát triển thuận thiên) phải trở thành triết lý cho mục tiêu phát triển bền vững của đất nước thì mới hy vọng giải quyết tận gốc các vấn đề suy thoái tài nguyên và môi trường hiện nay.

Ảnh hưởng của suy thoái ĐDSH và mất cân bằng sinh thái là hậu quả tích lũy từ một chuỗi tác động liên hoàn của con người và quá trình tự nhiên trong thời gian dài. Vì vậy, cần phải có các giải pháp để tạo sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức và hành động từ các nhà lãnh đạo đến người dân. Chúng ta cần xây dựng và đưa vào chương trình giáo dục môi trường cho các thế hệ trẻ nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường tầm quốc gia và quốc tế.

Đồng thời, Việt Nam đang rất cần một chương trình quốc gia về quản lý và phát triển bền vững rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 và đòi hỏi sự vào cuộc thực sự của cả hệ thống chính trị, mọi tổ chức, cá nhân để phục hồi và bảo vệ chức năng phòng hộ của các hệ thống rừng, nhằm ứng phó thành công với thiên tai và biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

DƯƠNG THU (thực hiện)