Những câu hỏi nghi ngại...

Phóng viên (PV): Là lãnh đạo của viện, cũng là nhà khoa học có nhiều đóng góp trong công tác khắc phục, xử lý sự cố môi trường nhiều năm, đồng chí có thể chia sẻ một vài kỷ niệm đáng nhớ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình?

Thượng tá, TS Nguyễn Khánh Hưng: Tôi còn nhớ tháng 10-2019, sự cố cháy nhà kho của Công ty Cổ phần Bóng đèn Phích nước Rạng Đông (Công ty Rạng Đông) trên địa bàn quận Thanh Xuân (Hà Nội) khiến cho thủy ngân tán phát, gây nhiễm độc, gây tâm lý hoang mang đối với người dân trên địa bàn. Thủy ngân là kim loại nặng có độc tính rất cao và chủ yếu tồn tại ở dạng lỏng; ở dạng này thì việc kiểm soát sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, thủy ngân ở vụ việc này lại bị tán phát ra không khí nên nó đặc biệt nguy hiểm và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người khi hít phải. Trước đó, trên thế giới mới chỉ có hai sự cố ô nhiễm gây tán phát thủy ngân trong không khí. Vụ việc thứ ba là tại Công ty Rạng Đông và cũng là lần đầu tiên xảy ra ở Việt Nam.

Khi nhận được mệnh lệnh của cấp trên, chúng tôi nhanh chóng điều động đoàn cán bộ cùng với các phương tiện đến hiện trường tiến hành lấy mẫu phân tích và quan trắc môi trường. Cùng với đó, lực lượng cán bộ nghiên cứu ở nhà chuẩn bị vật tư, hóa chất và phòng thí nghiệm để khi có mẫu sẽ nhanh chóng phân tích được ngay. Sau đó, chúng tôi phân chia các tổ, nhóm làm việc ngày đêm để tiến hành phân tích trong phòng thí nghiệm. Trong thời gian ngắn, cán bộ, chiến sĩ của viện đã tìm ra phương án để xử lý ô nhiễm. Chúng tôi đã khẩn trương mời các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực hóa học của Việt Nam và TP Hà Nội để tổ chức hội thảo lấy ý kiến. Các nhà khoa học đều nhất trí với phương án xử lý. Khi được thủ trưởng Bộ tư lệnh Hóa học và TP Hà Nội chấp thuận về phương án xử lý ô nhiễm, chúng tôi nhanh chóng triển khai thực hiện và chỉ trong thời gian ngắn, môi trường bình thường được tái lập tại Công ty Rạng Đông và khu vực xung quanh.

leftcenterrightdel
Thượng tá, TS Nguyễn Khánh Hưng. Ảnh: QUÝ HỢI

PV: Có những ý kiến nghi ngại cho rằng, bộ đội hóa học thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, nhiều rủi ro, thậm chí là ảnh hưởng tới sức khỏe... Đồng chí có bình luận gì về vấn đề này?

Thượng tá, TS Nguyễn Khánh Hưng: Quả thực từ khi trở thành bộ đội hóa học, tôi đã nhận được nhiều câu hỏi nghi ngại như vậy từ những người xung quanh. Trước khi tôi lập gia đình, thậm chí nhiều cô gái còn hỏi thẳng thắn: Bộ đội hóa học như anh làm việc trong môi trường độc hại, có sinh con được không? Mỗi lần như vậy, tôi đành nhẫn nại giải thích: Làm việc trong môi trường độc hại, đối tượng tiếp xúc là các loại hóa chất, vi khuẩn nhưng theo quy định, chúng tôi luôn tuân thủ nghiêm các quy trình bảo đảm an toàn. Minh chứng rõ ràng nhất là tôi vẫn có con bình thường. Đến nay, các con tôi đều khỏe mạnh. Khi biết bố làm nghiên cứu về hóa học, các con tôi tỏ ra rất thích thú. Bộ đội hóa học tiếp xúc với hóa chất, vi trùng nhưng là để khắc chế tác hại của hóa chất và dịch bệnh, bảo vệ người dân. Muốn làm được điều đó, trước tiên phải có biện pháp bảo vệ mình và khi tuân thủ nghiêm quy tắc an toàn sẽ không có vấn đề gì xảy ra.

Chủ động ứng phó với những tình huống bất ngờ

PV: Những năm qua, nước ta xảy ra nhiều sự cố bất ngờ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Viện đã chuẩn bị sẵn sàng để chủ động ứng cứu, xử lý khi có tình huống bất ngờ xảy ra như thế nào, thưa đồng chí?

Thượng tá, TS Nguyễn Khánh Hưng: An ninh phi truyền thống, trong đó có an ninh môi trường đang là vấn đề mang tính thời sự. Ở Việt Nam những năm gần đây, một số sự cố ô nhiễm môi trường, những diễn biến phức tạp của dịch bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế-xã hội của đất nước và đời sống của nhân dân. Nhận thức rõ được những nguy hại tiềm ẩn đó, viện đã có nhiều giải pháp tích cực đề xuất với thủ trưởng Bộ tư lệnh Hóa học tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo và chủ động phòng ngừa, ứng phó với các sự cố hóa chất độc, phóng xạ, thiên tai, dịch bệnh.

Khi sự cố xảy ra, viện chủ động nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, đưa ra các phương án ứng phó và tham gia xử lý đạt kết quả tốt, được thủ trưởng các cấp, các bộ, ngành, địa phương và người dân đánh giá cao. Để làm được điều này, trước hết chúng tôi tập trung quán triệt, giáo dục, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh vững vàng, sẵn sàng vượt qua khó khăn, nguy hiểm, độc hại. Cùng với đó là việc chủ động trong nghiên cứu, cải tiến, chế tạo các trang, thiết bị, vật tư, là kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học để ứng dụng trong xử lý sự cố ô nhiễm hóa chất, dịch bệnh và đạt hiệu quả rất tốt.

PV: Đồng chí có thể nói rõ hơn về hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào thực tiễn, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, khắc phục sự cố môi trường đạt hiệu quả cao của viện thời gian qua?

Thượng tá, TS Nguyễn Khánh Hưng: Phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân trong thời kỳ đổi mới, những năm qua, viện đã triển khai thực hiện hơn 50 đề tài, nhiệm vụ khoa học ở các cấp, trong đó có 3 đề tài cấp Nhà nước, 18 đề tài, nhiệm vụ cấp Bộ Quốc phòng, nhiều đề tài cấp Tổng cục Kỹ thuật và cấp cơ sở. Các đề tài, nhiệm vụ là sản phẩm khoa học thể hiện hàm lượng trí tuệ cao của đội ngũ cán bộ nghiên cứu được hội đồng khoa học các cấp đánh giá tốt. Những sản phẩm nghiên cứu đã và đang được ứng dụng thực tiễn trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội hóa học và trong công tác bảo vệ môi trường.

Khi xảy ra sự cố ô nhiễm hóa chất độc do vụ cháy nhà kho tại Công ty Rạng Đông, viện phối hợp với Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội tổ chức 10 xe chuyên dụng, thu gom 11.340kg bóng đèn huỳnh quang và khoảng 10.000kg chất thải nguy hại; sử dụng 3.700kg hóa chất để chống tán phát thủy ngân; tẩy độc hơn 30.542m2 công trình trong khu vực bị cháy với lượng dung dịch hóa chất sử dụng 229.860 lít.

Rồi khi dịch Covid-19 bùng phát tại Việt Nam, với vai trò là lực lượng nòng cốt của binh chủng tham gia dập dịch, viện tổ chức sản xuất một hệ thống máy phun công suất lớn, 3 thiết bị khử trùng di động, pha chế hơn 3.000 lít dung dịch khử trùng theo đúng tiêu chuẩn của Bộ Y tế để khử trùng bên trong các tòa nhà, các địa hình chật hẹp; sản xuất 500 bộ quần áo công tác phục vụ lực lượng chuyên môn; nghiên cứu cải tạo và lắp đặt một hệ thống giàn phun khử trùng trên trạm tẩy xạ cơ động cỡ lớn... 

PV: Từ nhiều năm nay, Viện Hóa học môi trường quân sự vẫn liên tục nghiên cứu, đánh giá, xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Hành trình gian nan đó được thực hiện và đạt được những kết quả như thế nào, thưa đồng chí?

Thượng tá, TS Nguyễn Khánh Hưng: Cùng với công tác nghiên cứu khoa học, những năm qua, chúng tôi còn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là thu gom, xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh, khắc phục các sự cố về ô nhiễm môi trường. Viện đã triển khai thực hiện nhiệm vụ điều tra, thu gom, xử lý chất độc CS (loại chất độc kích thích, gây tác hại chủ yếu với mắt; ở nồng độ cao, CS có thể gây tác hại cho cả đường hô hấp và da; nồng độ thấp, CS vẫn gây tác hại cho con người) và đạn dược chứa chất độc CS trên địa bàn một số tỉnh, thành phố khu vực miền Trung-Tây Nguyên. Tính từ năm 2016 đến nay, viện đã tiến hành điều tra 293 huyện, thị xã, thành phố của 34 tỉnh; 3 kho, 3 cụm kho; 2 sư đoàn, 1 lữ đoàn, 1 tiểu đoàn của các đơn vị trong toàn quân. Quá trình điều tra đã phát hiện 355,112 tấn chất độc CS; 204,674 tấn đạn dược chứa chất độc CS; 776m3 đất nhiễm chứa chất độc CS và 7.150m2 diện tích đất bị nhiễm độc chất độc CS. Tổ chức thu gom, xử lý 557,534 tấn chất độc và đạn dược chứa chất độc CS; hơn 500m3 đất và 1.750m2 đất bị nhiễm chất độc CS.

Đối với công tác xử lý chất độc da cam/dioxin, viện tiếp tục phối hợp với các đối tác nước ngoài thực hiện xử lý tại sân bay Biên Hòa (Đồng Nai) theo chương trình của dự án XĐ-2. Chúng tôi đã triển khai thực hiện xử lý an toàn 51.516m3 đất nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hòa bằng phương pháp chôn lấp cô lập. Ngoài ra, viện còn thực hiện nhiệm vụ giám sát công nghệ xử lý dioxin tại sân bay Đà Nẵng và được các đối tác đánh giá cao về trình độ chuyên môn kỹ thuật.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

VĂN TUẤN (thực hiện)