Phóng viên (PV): Theo một số trang tin, Việt Nam gần đây được đánh giá là nước hạnh phúc. Về thông tin này, có nên bình luận gì không, thưa giáo sư?

GS Hồ Sĩ Quý: Sau hơn một năm kiểm soát được đại dịch Covid-19, cùng với những thành tựu khác trong hoạt động kinh tế-xã hội và phát triển đất nước... hạnh phúc của Việt Nam đã được không ít người đánh giá tích cực. Nhưng vài trang tin dẫn lại kết quả cũ của Báo cáo chỉ số hạnh phúc hành tinh để ca ngợi Việt Nam hôm nay, thì không tránh khỏi gây phản cảm.

Chỉ số hạnh phúc hành tinh-HPI (Happy Planet Index) là bộ công cụ đo hạnh phúc của tổ chức NEF (New Economics Foundation, có trụ sở tại Anh, cho đến nay mới chỉ công bố Báo cáo vào các năm 2006, 2009, 2012 và 2016; từ sau 2016, người ta đang muốn chỉ công bố online). Theo bảng xếp hạng này, năm 2006, Việt Nam đứng thứ 12/178 nước. Năm 2012, Việt Nam còn đứng thứ 2, chỉ sau Costa Rica và năm 2016, đứng thứ 5 về chỉ số hạnh phúc. Không chỉ người Việt mà nhiều học giả nước ngoài cũng khá hoài nghi về bộ công cụ khoa học của báo cáo HPI.

 Giáo sư Hồ Sĩ Quý.

Ngoài HPI, thế giới còn một vài tổ chức khác cũng nghiên cứu và công bố về hạnh phúc của các quốc gia, như: Hiệp hội Điều tra và nghiên cứu thị trường (Win/Gallup International) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB), hay Mạng các giải pháp phát triển bền vững (SDSN) thuộc Liên hợp quốc (LHQ) phối hợp với Viện Nghiên cứu Trái Đất thuộc Đại học Columbia, Mỹ hằng năm cũng công bố Báo cáo hạnh phúc thế giới.

Thực ra, đánh giá hạnh phúc theo các tiêu chí định lượng không bao giờ tránh khỏi gò ép. Bởi hạnh phúc dù theo quan niệm nào hay đo theo chỉ số nào thì cũng vẫn chỉ là phản ánh mức độ hài lòng của con người đối với đời sống của họ. Nghĩa là, cuộc sống của người này trong mắt người khác, có thể là hạnh phúc, nhưng đối với chính anh ta hoặc với cộng đồng khác thì chưa chắc họ đã hài lòng.

PV: Vậy theo giáo sư, báo cáo nào về hạnh phúc mà thế giới đã công bố, đáng tin cậy hơn cả?

GS Hồ Sĩ Quý: Báo cáo Hạnh phúc thế giới-WHR (World Happiness Report) của SDSN thuộc LHQ được các quốc gia, các tổ chức xã hội và các nhà khoa học sử dụng nhiều hơn cả. WHR được công bố lần đầu vào tháng 4-2012 theo đề nghị của Tổng thư ký LHQ lúc đó, ông Ban Ki-moon với mục đích hỗ trợ Hội nghị cấp cao của LHQ về hạnh phúc. Kể từ đó đến nay, WHR tiếp tục được nghiên cứu và công bố vào Ngày Quốc tế Hạnh phúc hằng năm.

 Điều đáng chú ý làm nên uy tín của WHR là, đông đảo các nhà nghiên cứu và một nhóm các chuyên gia độc lập thuộc SDSN là lực lượng chính thực hiện báo cáo này. Nhưng quan điểm của họ lại không đại diện cho bất kỳ tổ chức nào, kể cả LHQ. Dĩ nhiên, LHQ khuyến cáo các nước nên coi hạnh phúc là thước đo đúng đắn của tiến bộ xã hội và là mục tiêu của chính sách công, nhưng LHQ cũng tuyên bố không áp đặt bất cứ quan niệm nào về hạnh phúc.

Gia đình hạnh phúc. Ảnh: QUANG PHÚC 

Đại lượng cơ bản đánh giá hạnh phúc được WHR sử dụng là mức độ hài lòng với đời sống, được đo bằng thang điểm 10 từ “cực kỳ không hài lòng” đến “cực kỳ hài lòng”; không dựa vào ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu hay các nhà hoạch định chính sách, mà căn bản là cá nhân mỗi người tự đánh giá về phúc lợi của chính họ-điều được coi là quan trọng nhất trong nghiên cứu hạnh phúc. Các đại lượng khác như tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp hay lạm phát, học vấn hay hoàn cảnh cá nhân... chỉ có ý nghĩa chừng mực. Tất cả các yếu tố đa dạng và phức tạp của đời sống, khi ảnh hưởng đến sự hài lòng của mỗi người, đã được các chuyên gia WHR thiết kế (có thể nói là tương đối phức tạp) để tất cả đều nhập vào cùng một phương trình.

PV: Mức độ hài lòng với đời sống là đại lượng cơ bản, nhưng vẫn cần phải dựa trên những tiêu chí nhất định để đánh giá hạnh phúc của một quốc gia chứ, thưa giáo sư?

GS Hồ Sĩ Quý: Đúng thế, WHR đo đạc mức độ hạnh phúc các quốc gia dựa vào 8 tiêu chí: GDP bình quân đầu người; số năm sống khỏe mạnh so với tuổi thọ trung bình; hỗ trợ xã hội; tự do lựa chọn; sự rộng lượng; cảm nhận về tham nhũng; phản ứng tích cực; phản ứng tiêu cực.

Thực tế nghiên cứu của WHR qua nhiều năm cho phép kết luận, sức khỏe tinh thần và quan hệ đối tác, bạn hữu thường là yếu tố quan trọng hơn thu nhập, việc làm, thậm chí cả tình trạng bệnh tật. Thu nhập của hộ gia đình chỉ giải thích dưới 2% sự khác biệt về hạnh phúc. Đối lập với hạnh phúc là sự bất hạnh, đau khổ, thì các số liệu WHR chỉ ra rằng về nguyên tắc, đó là những thứ có thể loại bỏ được. Riêng đối với trẻ em, điều quan trọng nhất để trẻ em có hạnh phúc là sức khỏe tình cảm và hành vi của chúng, sau đó mới là kết quả học tập. Những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến trẻ em là thu nhập của cha mẹ và sức khỏe tinh thần của mẹ đứa trẻ-đây là điều thật đáng suy ngẫm. Sau đó mới là các nhân tố khác.

PV: Giáo sư có thể cho biết chi tiết thêm về tình trạng hạnh phúc ở một số nước và nhất là Việt Nam theo WHR của LHQ này?

GS Hồ Sĩ Quý: Tính từ khi WHR được công bố năm 2012 đến báo cáo mới nhất năm 2020, 10 nước có chỉ số hạnh phúc cao nhất đều là các nước công nghiệp phát triển, hầu hết ở châu Âu, nhất là Bắc Âu, đứng đầu là Đan Mạch. Điều kiện sống, trình độ văn hóa-xã hội, mức độ phúc lợi xã hội, thái độ của bộ máy quản lý vĩ mô... ở các nước này đều là những nhân tố luôn ở mức đáng mơ ước của thế giới.

Các quốc gia đứng cuối danh sách hạnh phúc thế giới 10 năm qua phần đông nằm ở châu Phi. Ở khu vực này, sự bất bình đẳng, khủng hoảng chính trị, bạo lực và nghèo đói... gắn liền với bất hạnh.

Trong ASEAN, Singapore luôn đứng ở vị trí cao nhất và cũng là cao nhất châu Á suốt những năm qua. Năm 2020, điểm số 6,377 và vị trí 31/152 nước đã cho thấy người dân Singapore tương đối hài lòng với chất lượng cuộc sống. Nói tương đối hài lòng vì với nền kinh tế có mức thu nhập trung bình hơn 70.000USD/người/năm, khoa học, giáo dục tiên tiến, bộ máy quan chức liêm khiết, xã hội thịnh vượng... Singapore được nhiều quốc gia rất ngưỡng mộ và muốn bắt chước, vậy mà người dân Singapore mới chỉ hài lòng với cuộc sống của họ ở tỷ lệ còn cách khá xa các nước như Đan Mạch, Na Uy hay Australia.

Myanmar và Campuchia vẫn là các quốc gia luôn đứng cuối ASEAN về xếp hạng hạnh phúc. Philippines là nước có tiến bộ nhiều nhất (năm 2020 ở vị trí 53/152 nước) và hiện đang cách Singapore không xa. Tất nhiên, tôi cũng không phản đối nếu ai đó hoài nghi điều này. Việt Nam những năm gần đây đều có những chuyển biến tích cực về chỉ số hạnh phúc, tuy không thật nhiều (năm 2016 xếp hạng 96/157, đến năm 2020 là 83/152 nước). Chúng ta chờ đón báo cáo WHR năm 2021 để xem chỉ số hạnh phúc năm nay của Việt Nam sẽ như thế nào.

PV: Những điều giáo sư vừa nói là về chỉ số hạnh phúc của các quốc gia. Nhưng con người của các quốc gia xếp hạng cao hơn liệu có hạnh phúc hơn con người của các quốc gia ở thứ hạng thấp hơn hay không. Trên thực tế, hiểu như thế nào về hạnh phúc của một con người?

GS Hồ Sĩ Quý: Cảm ơn câu hỏi thật hay và đó chính là điều phản ánh tính tương đối của các đo đạc định lượng hay các chỉ số về hạnh phúc.

Với hạnh phúc cá nhân thì thực ra chỉ từng cá nhân riêng biệt mới cảm thấy rõ nhất về mức độ hạnh phúc của mình. Những người thuộc tầng lớp thượng lưu quyền quý đôi khi cũng cảm thấy bất hạnh là vì vậy. Nhưng xã hội lại nhìn nhận hạnh phúc của từng cá nhân riêng biệt theo các chuẩn mực chung, nên mới cần phải có các nghiên cứu định lượng về hạnh phúc. Hạnh phúc của một quốc gia hay một cộng đồng là cơ sở, là bối cảnh cho hạnh phúc của từng cá nhân riêng biệt. Nhưng hạnh phúc của mỗi cá nhân thì không nhất thiết phải tỷ lệ thuận với hạnh phúc cộng đồng.

PV: Theo ông, một quốc gia cần bảo đảm những điều gì, hay nói cách khác nước ta cần làm gì để người dân thật sự hạnh phúc?

GS Hồ Sĩ Quý: Đây là vấn đề mà các văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng cũng đã trực tiếp nói đến, khi đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thực ra, thông qua báo cáo chỉ số hạnh phúc thế giới công bố hằng năm, LHQ cũng đã khuyến cáo, bất cứ quốc gia nào nếu muốn người dân thật sự hạnh phúc thì đều phải có chính sách, chiến lược để người dân hài lòng với cuộc sống của mình, ít nhất là 8 tiêu chí cụ thể đã nói ở trên.

Ý nghĩa sâu sắc mà LHQ muốn cảnh tỉnh các chính phủ là, không nhất thiết mọi tiến bộ về kinh tế-xã hội cũng đều làm cho con người hạnh phúc. Đối với người dân, tuổi thọ bình quân tăng, chỉ đem lại hạnh phúc khi số năm sống khỏe mạnh cũng tăng theo. Giàu hay nghèo cũng đều sẽ không tránh khỏi bất hạnh nếu lúc khó khăn, tuyệt vọng không được trợ giúp. Những lựa chọn trong cuộc sống, dù thành công đến mấy cũng chưa chắc đã mang lại hạnh phúc cho con người, nếu sự lựa chọn đó không có tự do, tự nguyện. Chính phủ mạnh, doanh nghiệp giỏi, hay cơ quan công quyền chuyên nghiệp... cũng chưa chắc đã đem lại cho người dân hạnh phúc nếu cảm nhận về tham nhũng của dân vẫn là nỗi ám ảnh trong từng hoạt động dân sự, nếu niềm tin của dân vào chế độ không đủ tin cậy.

Và cuối cùng là tâm trạng hài lòng, tiếng cười và niềm vui trong cuộc sống mà WHR đã không quên lượng hóa để khuyến cáo các chính phủ. Cuộc sống người dân chỉ thực sự có hạnh phúc khi không phải nơm nớp đề phòng những bất công, lo lắng, hay oan trái... có thể bất ngờ xảy ra. Xã hội bình thường nào cũng có những cơ chế để tháo gỡ những bất công, oan trái như vậy, nếu một ai đó không may có thể bắt gặp trong cuộc đời.

PV: Trân trọng cảm ơn giáo sư!