leftcenterrightdel
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý. Ảnh: THU HÒA

Phóng viên (PV): Trường Sơn là một đề tài lớn của văn học-nghệ thuật với bao tác phẩm, tác giả nổi tiếng, suốt những năm qua, đề tài này đã được thể hiện trong văn học như thế nào, thưa ông?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Khi nhắc đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc thì không thể không nói đến Trường Sơn. Trên con đường Trường Sơn-gạch nối lớn giữa hai miền đất nước-là cả dân tộc điệp điệp trùng trùng vào trận, từ những năm đầu mở đường, đoàn quân còn đi trong bí mật “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” cho đến khi trở thành con đường lớn, xe cơ giới qua được. Cả dân tộc ta, cụ thể là Bộ đội Trường Sơn đã làm nên một công trình xứng đáng là kỳ tích vĩ đại trong thế kỷ 20 và để làm nên được công trình đó, biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu của những bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã đổ xuống. Trường Sơn là một phần trong tổng thể cuộc kháng chiến trường kỳ hào hùng, bi tráng của chúng ta.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, văn học-nghệ thuật lấy Trường Sơn làm đề tài rất nhiều. Hầu như các nhà văn, nhà thơ đương đại đều có tác phẩm về Trường Sơn, kể cả các tác giả thời tiền chiến, như: Chế Lan Viên, Xuân Diệu… và tác giả thời chống Pháp, như: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi... cũng có tác phẩm thơ, văn về Trường Sơn, đặc biệt là đội ngũ đông đảo các tác giả xuất hiện, trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Bây giờ chiến tranh đã lùi xa, những con đường Trường Sơn xưa đã được mở rộng thành đại lộ, hoặc có nẻo đường bị che lấp dưới những tán cây, bụi rậm của thời gian, nhưng những gì của thời bom đạn “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” vẫn còn lưu lại trong ký ức rất nhiều người đã trực tiếp ra trận, có mặt ở Trường Sơn thời ấy một cách bền vững, đôi khi là ám ảnh. Những ký ức, hồi quang thế hệ đó còn lưu lại thời kỳ sau để tiếp tục có những tác phẩm viết về Trường Sơn. Và nếu trong chiến tranh, viết về Trường Sơn là khắc họa chủ nghĩa anh hùng xả thân vì nước, lòng lạc quan, lãng mạn thì sau chiến tranh, khi có độ lùi về thời gian để nhìn lại cuộc chiến một cách điềm tĩnh hơn, thì các tác phẩm viết về Trường Sơn không chỉ nhấn mạnh, phản ánh tinh thần dũng cảm, chủ nghĩa anh hùng mà cũng không ngại nói đến những mất mát, bi thương, hy sinh. Tôi nghĩ đó là hướng đi đúng. Tức là phản ánh chiến tranh thực hơn, đầy đủ hơn, toàn diện ở nhiều tầng lớp hơn trên mẫu số chung là quan tâm đến con người. Những gì văn học chưa được thể hiện trong chiến tranh, chưa cần thiết được thể hiện trong giai đoạn trước thì sau năm 1975 nó được bù đắp lại, bồi đắp thêm làm cho dòng văn học về chiến tranh nói chung, Trường Sơn nói riêng được đầy đủ, chân thực hơn.

PV: Bản thân ông cũng là nhà thơ có nhiều sáng tác về Trường Sơn. Cảm hứng cho những sáng tác đó của ông là gì?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Cảm hứng sáng tác về Trường Sơn đến với tôi rất sớm. Mới nhập ngũ, khi còn là binh nhì năm 1974, tôi đã có chùm thơ 3 bài viết về Trường Sơn, về cô gái thanh niên xung phong in Báo Trường Sơn của Đoàn 559. Năm 1976, có bài thơ “Trên đường hành quân” in Tạp chí Văn nghệ Quân đội số Tết Bính Thìn. Đến năm 1995, bài thơ “Bông huệ trắng” viết về các liệt sĩ Trường Sơn được in và được tặng thưởng tác phẩm xuất sắc trong năm của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Năm 1996, bài thơ “Khát vọng Trường Sơn” được giải nhì (không có giải nhất) Cuộc thi thơ Văn nghệ Quân đội. Sau đó, tôi viết trường ca “Vạn lý Trường Sơn” được Giải thưởng Bộ Quốc phòng.

Trường Sơn vẫn là cảm hứng sáng tạo của tôi, trong trường ca “Chín cơn mưa và mẹ” sắp xuất bản của tôi cũng có mấy khúc đoạn viết về Trường Sơn. Trường Sơn vẫn trở lại trong tôi như một kết nối thiêng liêng quá khứ và hiện tại, như sự thương tiếc và tri ân những người đã ngã xuống trên con đường huyền thoại đó. Bạn gái học thời cấp 1, cấp 2 của tôi cũng hy sinh ở Trường Sơn khi còn quá trẻ. Chắc chắn Trường Sơn còn là mối duyên nợ với tôi trong hành trình sáng tạo văn chương. Cái cần nhất mà tôi luôn tự nhủ mình là phải viết về Trường Sơn thật chân thực, giản dị nhưng cũng phải mới mẻ từ tâm thế hôm nay, khi chiến tranh đã chấm dứt hàng mấy chục năm rồi và mình cũng là người từng trải.

PV: Trường Sơn đã tạo cảm hứng sáng tạo cho nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ nhưng dường như các tác giả trẻ hiện nay lại không quan tâm nhiều lắm, thưa ông?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Đội ngũ nhà văn viết về Trường Sơn hiện chủ yếu vẫn là lực lượng của thời chống Mỹ, nay tuổi cũng đã 60 trở lên. Tôi có cảm giác các cây viết trẻ đang nổi tiếng hiện nay, kể cả những nhà văn đang khoác áo lính, hình như không phải họ không quan tâm, không trân trọng những gì của quá khứ, Trường Sơn xưa cũ mà có vẻ họ ngại. Bởi trước đó đã có thế hệ văn nghệ sĩ lừng lẫy với nhiều tác phẩm sống cùng năm tháng. Phải chăng họ ngại ngần liệu mình có thể viết khác, hay hơn thế hệ trước? Lý do thứ hai là thế hệ trẻ có nhiều điểm mạnh hơn nhưng trong sáng tác văn học, vốn sống rất quan trọng, mà vốn sống của họ về giai đoạn trước có hạn. Đó có thể là điều làm cho việc hồi cố, quay lại những đề tài trong quá khứ khiến người viết trẻ ngại ngần, đặc biệt ở những thể loại cần nhiều vốn sống như tiểu thuyết nên họ chọn rẽ sang vấn đề đương đại khác của xã hội.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ của dân tộc ta vẫn còn nhiều tầng vỉa chưa được khai thác hết, nhiều câu chuyện còn khuất lấp đâu đó mà ta chưa biết, còn nhiều nhân vật chưa được nói đến. Tức là dù đã viết nhiều nhưng vẫn cần tiếp tục khai thác về đề tài chiến tranh cách mạng, Bộ đội Cụ Hồ. Và điều đó cần một thế hệ cầm bút trẻ hơn để kế cận nhưng thực tế đó còn là khoảng trống. Và trong giai đoạn hiện nay, chúng ta không chỉ viết về bộ đội trong thời chiến, mà còn cần viết nhiều về bộ đội trong thời bình. Tôi mới có chuyến thăm Trường Sa và càng thấy rằng tất cả những gì chúng ta viết về Trường Sơn hay Trường Sa, về người bộ đội thời bình vẫn còn quá ít ỏi so với hiện thực ngồn ngộn chất liệu.

PV: Trong khi đó, lâu nay nhiều người vẫn lo ngại, phê phán việc nhiều người viết trẻ sa đà vào những đề tài vụn vặt, cá nhân mà thờ ơ với những đề tài lớn của đất nước?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Đó cũng là điều hiện nay khiến nhiều người quan tâm khi không ít bạn trẻ cầm bút đặt cái tôi cá nhân lên trên cái chung đất nước, chạy theo đề tài thời thượng, trong khi những vấn đề lớn của đất nước, cả dân tộc quan tâm lại không viết được dòng nào hoặc viết rất hời hợt. Từ xưa đến nay, văn học được nhân dân tôn vinh vẫn luôn thấm lòng yêu nước thương dân, rất ít khi những sáng tác đi vào vụn vặt, “mì ăn liền” tồn tại được lâu. Theo thời gian, sẽ chỉ còn lại những tác phẩm xuất sắc. Đó là quy luật sáng tác.

Thực tế cũng có những tác giả trẻ viết về chiến tranh, viết về người lính khá được nhưng nhìn chung không nhiều tác phẩm nổi bật hẳn. Trong khi đó, tôi cho rằng lớp trẻ không phải không có tài năng, họ có nền tảng văn hóa, ngoại ngữ, có điều kiện tiếp cận những trường phái, trào lưu trên thế giới nhưng có thể họ giỏi ở đề tài khác còn về quá khứ chiến tranh vẫn còn hạn chế. Tôi nghĩ chúng ta nên quan tâm đến lực lượng này để làm sao trong tác phẩm của họ phải có tính nhập thế cao, có hình ảnh, số phận dân tộc mình trong đó ở những vấn đề rộng lớn, những tư tưởng cao cả, thể hiện rõ lòng yêu nước, thương dân của người cầm bút. Để các tác phẩm văn học phải là món ăn, điểm tựa tinh thần cho hàng triệu bạn đọc, công chúng.

leftcenterrightdel

Đường Trường Sơn ra tiền tuyến trong những năm bị máy bay Mỹ liên tiếp

đánh phá. Ảnh tư liệu

PV: Vậy theo ông, các cơ quan chức năng, các hội văn học-nghệ thuật cần làm gì để các cây viết trẻ quan tâm, tự tin hơn với đề tài này, tránh sa vào những đề tài vụn vặt, cá nhân?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Tôi cũng từng nhắc đến nhiều lần việc các cơ quan chức năng, các hội văn học-nghệ thuật cần có những kế hoạch nâng đỡ, động viên cây viết trẻ viết về đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng, người lính. Trước hết phải có sự phát hiện, quan tâm tới đội ngũ này một cách thường xuyên, thậm chí cần có chiến lược phát triển. Các hội cần tạo điều kiện cho họ tiếp cận thực tế, gặp gỡ nhân vật, có sự quan tâm về công bố tác phẩm, giải thưởng; phải thường xuyên tổ chức những trại sáng tác chuyên về đề tài lực lượng vũ trang, phải có đầu tư từ ngắn hạn đến chiều sâu cho những tác giả có khả năng viết về đề tài này. Việc này ta đã làm nhưng có thể chưa nhiều, chưa đến nơi đến chốn, chưa đúng đối tượng.

Thế hệ trẻ có thể hạn chế về trải nghiệm, vốn sống nhưng có thể tiếp cận qua tư liệu, nhân chứng... cái chính vẫn là tài năng của tác giả, mà tôi nghĩ lớp trẻ rất nhiều người tài năng. Nhưng trên hết, cái tài đó phải xuất phát, tỏa sáng từ cái tâm trong sáng của người tử tế, biết yêu thương, biết trân trọng dân tộc.

PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

CHI PHONG (thực hiện)