Từ những năm tháng đáng nhớ ấy, đất nước Cuba đã trở thành một phần quan trọng, gắn bó máu thịt của cuộc đời ông. Ông yêu đất nước và con người Cuba với một tình cảm chân thành và mãnh liệt hiếm thấy. Nhiều năm liền, ông là Phó chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Cuba, với tâm nguyện vun đắp tình hữu nghị giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước ngày càng xanh tươi, nở hoa kết trái.

leftcenterrightdel
Gia đình đồng chí Lý Văn Sáu chụp ảnh chung cùng gia đình đồng chí Raul Castro. Ảnh do tác giả cung cấp

Tình yêu Cuba từ trái tim ông, một cách rất tự nhiên, đã truyền sang tất cả con, cháu trong gia đình. Trong câu chuyện của mình, bao giờ ông cũng nhắc các con cháu: “Cuba là đất nước mà các con không bao giờ được quên ơn”.

Cùng với độ lùi của thời gian, chúng tôi càng ngày càng thấm thía lời dặn đó của ông.

Đối với cá nhân tôi, Cuba cũng là một phần của tuổi thơ và là một ký ức thật đẹp, thật sống động. Tháng 7-1962, ba tôi được chỉ định cùng đồng chí Lê Toàn Thư, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, đi đặt cơ quan đại diện của Mặt trận DTGPMN Việt Nam tại Cuba. Đây là nước đầu tiên trên thế giới nhận đặt cơ quan đại diện của mặt trận.

Ba tôi tên thật là Nguyễn Bá Đàn, trước khi đi nhận nhiệm vụ mới, ông lấy tên là Lý Văn Sáu. Ba tôi sang Cuba đúng ngày 26-7-1962, kỷ niệm lần thứ 9 cuộc tấn công của những người du kích Cuba vào pháo đài Moncada.

Tháng 7-1963, má tôi cũng được Ban Thống nhất Trung ương cử sang Cuba bổ sung cán bộ cho phái đoàn mặt trận, lấy tên là Phương Hồng. Bạn bè Cuba thường gọi má tôi với cái tên thân mật là Rosita (Bông hồng nhỏ). Tôi và em tôi, năm ấy đứa 6 tuổi, đứa 2 tuổi thật may mắn được sang Cuba cùng ba má. Tôi là Nguyễn Thị Khánh An, bạn bè Cuba gọi tôi là Anita, còn em tôi là Nguyễn Nam Liên, được gọi là El Lobito (Con sói con, tên một nhân vật láu lỉnh trong phim hoạt hình).

Những năm tháng đó, phong trào ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam lan rộng khắp đất nước Cuba. Tôi tuy còn nhỏ nhưng cũng được chứng kiến rất nhiều cuộc mít tinh rầm rộ ủng hộ Việt Nam và các cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của đông đảo quần chúng phản đối Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam. Các cuộc chạy bộ từ thủ đô La Habana đến thành phố Santiago de Cuba mang tên “Vì Việt Nam” với hàng trăm người tham gia, ai cũng mang quốc kỳ Cuba và cờ Mặt trận DTGPMN Việt Nam, tham gia các cuộc quyên góp thuốc men, quần áo... Tại trường học của tôi, ngôi trường mang tên người anh hùng Moncada Arancelio Iglesas, học sinh cũng được phát động quyên góp ủng hộ quần áo cho trẻ em Việt Nam. Bạn bè Cuba trong lớp tôi, ai cũng hưởng ứng rất nhiệt tình. Trường tôi còn tổ chức các cuộc đốt lửa trại, các cuộc tìm hiểu về Việt Nam...

Không khí cả đất nước Cuba hừng hực khí thế và tình cảm đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ những năm tháng ấy, tôi còn nhớ rõ và không bao giờ quên.

Cùng với ba má, hai chị em tôi dù lúc đó còn nhỏ tuổi nhưng với tinh thần “tuổi nhỏ làm việc nhỏ” cũng đã góp phần khiêm tốn vào các hoạt động đoàn kết với Việt Nam do các tổ chức, đoàn thể của nước bạn chủ trì.

Ba tôi tự học tiếng Tây Ban Nha, ông nói tiếng Cuba thành thạo. Và chính với vốn ngoại ngữ đó, ông đã tiếp cận được với mọi tầng lớp người dân Cuba, đi đến nhiều nơi trên đất nước Cuba, tham gia các cuộc nói chuyện để các bạn Cuba hiểu sâu sắc thêm về tình hình Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, góp phần xây dựng tình đoàn kết Việt Nam-Cuba. Ông cũng đã cùng ông Taurino, một cán bộ Cuba làm việc tại phái đoàn, dịch cuốn “Sống như Anh” từ bản tiếng Pháp ra tiếng Tây Ban Nha để phát hành tại Cuba. Ông trực tiếp tham gia nhiều cuộc nói chuyện về tấm gương chiến đấu, hy sinh của anh Nguyễn Văn Trỗi. Những năm đó, một loạt đường phố, trường học mang tên người anh hùng Nguyễn Văn Trỗi xuất hiện ở Cuba.

Chị em tôi trong những năm tháng ấy được ba má đưa đi dự các cuộc mít tinh, các cuộc nói chuyện về Việt Nam. Tôi lúc đó chưa đầy 9 tuổi, với tư cách là một thiếu nhi miền Nam đang sống và học tập trên đất nước Cuba, kể những mẩu chuyện nhỏ về cuộc sống của trẻ em miền Nam, những tấm gương dũng sĩ diệt Mỹ... đã được nghe từ ba tôi. Tại các hoạt động đoàn kết, ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ, tôi hát những bài hát Việt Nam mà các bạn Cuba rất thích, nhiều lúc phải hát đi hát lại nhiều lần. Trong các trại hè thiếu nhi, tôi tự sáng tác các điệu múa, kịch ngắn về đề tài Việt Nam chống Mỹ. Tôi còn nhớ điệu múa “Bên cầu Hiền Lương”, biểu diễn ngay tại sân trường học, có cả cờ Mặt trận DTGPMN Việt Nam bay phấp phới khi kết thúc, trong lúc tôi cùng các bạn Cuba hát vang bài “Giải phóng miền Nam”...

leftcenterrightdel
Khi Bộ trưởng Bộ Các LLVT cách mạng Cuba Raul Castro hỏi: Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ đánh chiếm sào huyệt cuối cùng của Mỹ-ngụy ở đâu, bé Anita (tác giả lúc nhỏ) đã chỉ trên bản đồ địa danh Sài Gòn.

Trong một lần tham gia trại hè cùng các bạn nhỏ Cuba trên bãi biển Varadero, tôi đã lên sân khấu đọc trọn vẹn một bài thơ rất dài của Jose Marti bằng tiếng Tây Ban Nha về chống phân biệt chủng tộc giữa người da đen và da trắng thông qua hình tượng một búp bê da đen được em bé da trắng yêu quý nhất trong đám búp bê mà em có... khiến cả hội trường thán phục. Tôi cũng hát các bài hát Cuba với các nghệ sĩ lớn của nước bạn ngày đó tại các hoạt động đoàn kết “Vì Việt Nam”.

Em tôi, nhỏ tuổi hơn, nghịch ngợm nhưng thông minh, thường sáng kiến ra các trò chơi cùng các bạn nhỏ Cuba, được các cô trò trong trường mẫu giáo hoan nghênh như một trò chơi đầy tính sáng tạo.

Tôi cũng được ba má đưa đi gặp các vị trong Ủy ban Đoàn kết với Việt Nam của Cuba như bà Melba Hernandez (sau này là Đại sứ Cuba tại Việt Nam), gặp các nhà ngoại giao, nhà báo lớn của Cuba như bà Marta Rojas...

Cuộc gặp ý nghĩa nhất mà tôi nhớ mãi là vào cuối tháng 8-1966, trước khi ba má tôi kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Cuba, gia đình chúng tôi được mời vào cơ quan làm việc của đồng chí Raul Castro Ruz, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Các LLVT cách mạng Cuba.

Tại cuộc gặp mặt này, đồng chí Raul đã trao tặng gia đình tôi một số món quà của lãnh tụ Fidel Castro. Đồng chí Raul đã gửi gắm tình cảm và sự quan tâm rất chu đáo của các đồng chí lãnh đạo Cuba khi biết gia đình chúng tôi sắp về Việt Nam, sẽ gian khổ, sẽ có thể vào Nam tiếp tục cùng cả nước đánh Mỹ... Tình cảm của đồng chí Raul trong buổi chia tay thật chân tình, gần gũi, như người thân trong một nhà.

Quà của Fidel tặng chúng tôi có hai bộ quân phục màu xanh ô liu giống như quân phục quân đội Cuba mà bác Fidel hằng ngày vẫn mặc và chị em chúng tôi đã mặc bộ quân phục ấy với niềm hạnh phúc và hãnh diện biết bao.

Suốt đời tôi mang theo trong tim tình cảm không bao giờ có thể quên đó...

Chỉ vỏn vẹn 3 năm được theo cha mẹ sang Cuba nhưng chúng tôi đã được đất nước Cuba nuôi dạy tận tình, thương yêu hết mực, dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho phái đoàn Mặt trận DTGPMN Việt Nam, trong đó có hai chị em chúng tôi.

Chúng tôi thật may mắn và tự hào vì đã được có mặt ngay từ những ngày đầu tiên khi phái đoàn của Mặt trận DTGPMN Việt Nam thành lập cơ quan đại diện tại La Habana, chứng kiến sự ra đời và phát triển rộng khắp của phong trào toàn quốc ủng hộ Việt Nam trên đất nước Cuba.

May mắn hơn là chúng tôi được đại diện cho thiếu nhi miền Nam, một nửa đất nước Việt Nam thân yêu đang bị chia cắt bởi giặc Mỹ, giao lưu, tiếp xúc với các bạn nhỏ Cuba. Mọi hoạt động, lời nói của tôi được các bạn coi như là hình ảnh của một thiếu nhi miền Nam được sang Cuba sống và học tập. Ý nghĩa đó thật là lớn lao!

Đến bây giờ tôi vẫn không thể quên những giây phút tràn đầy cảm xúc khi chúng tôi rời Cuba về Việt Nam. Khi gia đình tôi ra sân bay, có hai xe ca chở các thầy giáo, cô giáo và bạn học của tôi ra tiễn. Hoa và nước mắt, nước mắt và hoa làm cho chuyến bay hôm đó cất cánh chậm 15 phút. Những nụ hôn, những cái ôm siết chặt như không muốn rời xa của các bạn Cuba khiến tôi không cầm được nước mắt. Thấy vậy, các bạn Cuba lại khẩn thiết yêu cầu tôi hát bài hát tiếng Việt lần cuối trước khi chia tay. Tôi nhớ là tôi đã vừa hát vừa khóc rất nhiều... Khi tôi bước ra máy bay, các bạn tôi vừa vẫy tay, vừa hò với theo: “Anita, Việt Nam chiến thắng, chúng ta sẽ lại gặp nhau! Tất cả chúng mình đều mong chờ bạn!”.

Các bạn tôi: Susana, Graciala, Magdalena, Rosa, Predro, René sau này khi tôi về nước vẫn viết thư cho tôi. Những lá thư chan chứa tình cảm, nỗi nhớ nhung, nhưng trên hết là ước vọng Việt Nam sớm chiến thắng giặc Mỹ để bạn bè sớm gặp lại nhau. Tôi đặc biệt cảm động trước lá thư của bạn Hippolita Simon:

 Các bạn ở lớp nói mình viết thư thăm sức khỏe của bạn. Mình nhớ mãi buổi chúng mình chia tay bạn ở sân bay. Thật là buồn biết bao! Mới được học chung với nhau một năm, bọn mình đã phải xa cách bạn. Mình nhớ mãi những hôm mình đến nhà bạn để ôn bài. Mình có mấy câu thơ tặng bạn:

Ta muốn biến thành con muỗi nhỏ

Chui vào màn ngủ của bạn Anita

Để nói với bạn rằng: “Chúng mình yêu bạn lắm”

Mong thư bạn trả lời.

Năm 2000, tôi có dịp đi công tác qua Cuba kết hợp thăm con trai học tại Khoa Báo chí, Trường Đại học Tổng hợp La Habana. Tôi gặp lại bạn bè cùng học với tôi suốt những năm cấp 1. Mấy chục năm qua nhưng tình cảm bạn bè của chúng tôi vẫn vẹn nguyên như tình đoàn kết Việt Nam-Cuba vẫn bền vững qua năm tháng!

Đến nay, gia đình tôi đã có 3 thế hệ gắn bó với Cuba. Tôi viết những dòng ký ức này vào những ngày Việt Nam và Cuba đang kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Ba tôi đã đi xa, tôi thầm hứa với ông, mãi mãi ghi lòng tạc dạ điều ông dặn: “Cuba là đất nước mà các con không bao giờ được quên ơn!”.

NGUYỄN THỊ KHÁNH AN