Cùng với những hình ảnh thân thuộc: Cây đa, bến nước, sân đình, mái tranh, bờ đê, đồng bãi, lũy tre… những sắc màu thiên nhiên từ cây cối, cỏ hoa xoay mùa, chuyển vụ theo năm tháng đã tạo nên vẻ đẹp độc đáo, phong phú của không gian văn hóa Việt. Sắc màu ấy, vẻ đẹp ấy đi vào nếp sống, lối sống, vận vào hồn cốt, nhân cách con người Việt Nam từ thế hệ này qua thế hệ khác, cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc.

Cốt cách, phong tục của con người luôn tác động, hòa quyện mật thiết với môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa. Ở đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo giá trị văn hóa, vừa là sản phẩm, đối tượng thụ hưởng từ chính môi trường ấy.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đưa đời sống xã hội tiến những bước dài vào thế giới văn minh. Nhiều giá trị truyền thống bị mất đi và thay thế bằng sản phẩm công nghệ, đặt sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vào cuộc thử thách cam go. Bảo tồn bản sắc không chỉ là giữ lại những giá trị truyền thống trong hệ thống bảo tàng, di tích lịch sử văn hóa, phong tục lễ hội, hành vi ứng xử của con người… mà còn phải giữ gìn những hình ảnh, vẻ đẹp thân thuộc của môi trường văn hóa Việt. Đời sống văn hóa, cốt cách, tâm hồn của thế hệ tương lai sẽ ra sao nếu làng quê Việt tháng ba thiếu màu hoa gạo, mùa hè không còn phượng vĩ, làng xóm vắng lũy tre ngà, nông dân bỏ ruộng, bờ đê, đồng bãi vắng bóng trẻ thơ thả diều…

Công nghệ của thời đại văn minh trao cho chúng ta những cơ hội lớn để tận dụng bứt phá, đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trong thế giới hội nhập, nhưng cũng đặt ra những thách thức to lớn trong xây dựng, bảo tồn nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đập bỏ, thay thế cái gì, giữ lại những gì để môi trường sống vừa văn minh, hiện đại, vừa có màu của bản sắc là bài toán phải được cân nhắc kỹ lưỡng. Đó là trách nhiệm, bổn phận từ mỗi người dân, mỗi cộng đồng dân cư, mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp chứ không chỉ là việc của Trung ương…

PHAN TÙNG SƠN