Đưa nghệ thuật truyền thống ra nước ngoài luôn là cách hiệu quả nhất để giới thiệu hình ảnh đất nước, con người của một quốc gia. Trong những năm qua, với tinh thần hội nhập, chúng ta đã đưa hàng trăm đoàn nghệ thuật truyền thống đi tham gia các liên hoan, các hoạt động văn hóa trên phạm vi toàn cầu. Hiệu quả? Đất nước, con người Việt Nam ngày càng định hình rõ nét trong lòng bạn bè quốc tế. Thế nhưng, những khó khăn vẫn chưa hết. Để văn hóa Việt có thêm cơ hội tỏa sắc, vẫn còn không ít việc phải làm.

Từ thực tiễn là giám đốc một đơn vị có kinh nghiệm dày dạn trong việc đưa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam ra nước ngoài-Nhà hát Múa rối Việt Nam-NSƯT Vương Duy Biên đã có những chia sẻ cùng bạn đọc báo Quân đội nhân dân cuối tuần.

Ngoại giao văn hóa

PV: Trong thời gian qua, trên đà hội nhập ngày càng sâu, rộng các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam với thế giới, hoạt động lưu diễn tại nước ngoài của Nhà hát có khởi sắc, thưa ông?

NSƯT Vương Duy Biên: Suốt từ năm 1984 đến giờ, Nhà hát Múa rối Trung ương luôn duy trì, phát triển tốt hoạt động lưu diễn tại nước ngoài. Năm ít nhất cũng 1-2 chuyến, năm nhiều lên tới 4-5 chuyến. Mà mỗi chuyến đi thường phải 2-3 nước.

- Từ thực tế các chuyến lưu diễn, ông nhận thấy, đưa văn hóa truyền thống ra nước ngoài có hiệu quả như thế nào đối với việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam?

- Việt Nam ta có gì để khoe với thế giới? Trước là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Giờ chúng ta đang học hỏi để làm kinh tế. Nhưng so với các quốc gia phát triển, kinh tế của chúng ta chưa thấm vào đâu. Vậy còn gì? Chỉ có thể là những di sản văn hóa-tài sản của cha ông để lại.

NSƯT Vương Duy Biên

Năm nay là “Năm Ngoại giao văn hóa”. Không phải tự nhiên mà Chính phủ ta chọn như vậy. Chắc chắn là do nhận thấy được thế mạnh của việc tạo dựng hình ảnh quốc gia thông qua việc giao lưu văn hóa truyền thống trong thời kỳ chúng ta hội nhập với thế giới.

Ngoại giao văn hóa rất hiệu quả. Ví dụ, năm 1998-1999, chúng tôi diễn một vệt ở các thành phố của CHLB Đức. Ông chủ tịch Hội Đức-Việt nói: “Trước khi các bạn sang đây, trên báo toàn đăng những vụ về các băng nhóm xã hội đen người Việt khiến dân Đức rất thiếu thiện cảm với người Việt Nam. Lạ thật, giờ cũng là người Việt Nam mà trang nhất các báo lại giới thiệu một hình ảnh Việt Nam khác, đầy truyền thống văn hóa. Chuyến biểu diễn của các bạn khiến người Đức thay đổi nhận thức, cách đánh giá về người Việt Nam”.

Hoặc có lần chúng tôi sang diễn ở Thụy Điển. Một buổi diễn có tới 2.000 người xem. Đồng chí Đại sứ Việt Nam tại đó mừng lắm: “Một buổi biểu diễn của các đồng chí bằng chúng tôi làm ngoại giao cả năm”.

Những buổi biểu diễn, đặc biệt các buổi biểu diễn nghệ thuật truyền thống có giá trị rất lớn. Ở góc độ nào đó, nó là kênh tuyên truyền văn hóa Việt Nam. Nói rộng hơn là hình ảnh, đất nước con người Việt Nam.

Trong việc đưa nghệ thuật truyền thống Việt Nam ra nước ngoài, rối nước có ưu thế hơn cả. Vì không gặp phải rào cản về ngôn ngữ, lại là đặc sản của nền văn minh lúa nước. Do đó, khi người nước ngoài xem chương trình rối nước, họ thấy được cả đất nước, con người Việt Nam một cách cụ thể. Nhiều người sau khi xem chương trình của chúng tôi đã nói: “Tôi sẽ sang Việt Nam!”. Như thế, rối nước cũng góp phần thúc đẩy du lịch.

Tôi nghĩ, có lẽ chúng ta phải phát huy hơn nữa việc đưa nghệ thuật truyền thống ra nước ngoài. Tuy nhiên, để làm tốt, Nhà nước cần có một chính sách. Thời điểm này, chúng tôi phải dựa vào sự tài trợ của những nơi mời. Nhưng với những địa bàn mới, với những chiến lược xúc tiến du lịch, thì phải có chi phí của Nhà nước để xâm nhập. Việc quảng bá, xúc tiến du lịch, thương mại bằng nghệ thuật truyền thống sẽ rất có hiệu quả.

Giá trị của văn hóa đến sau

PV: Theo ông, yếu tố khó khăn nhất trong việc đưa nghệ thuật truyền thống nói chung và rối nước nói riêng ra nước ngoài?

NSƯT Vương Duy Biên: Kinh tế! Thực tế, tôi đã đo được mức độ quan tâm của các ban tổ chức các liên hoan quốc tế. Với họ, mời được đoàn rối nước Việt Nam sang là một nỗ lực rất lớn. Nếu không có tài trợ thì chắc không làm được. Nhưng không phải liên hoan nào họ cũng đài thọ hết. Phần lớn các liên hoan chỉ đài thọ ăn ở. Việc đi lại các đoàn phải tự lo, trong khi đó, đi lại là phần nặng nhất. Đoàn rối nước cũng lại là tốn chi phí đi lại nhất do đông diễn viên và nhiều đạo cụ.

- Ông có thể tính trung bình chi phí cho một chuyến đi lưu diễn khoảng một tuần?

- Một đoàn khoảng 20 người đi, vé máy bay 1.200USD/người, cộng hơn 1,5 tấn đạo cụ, ăn, ở, chi phí địa điểm biểu diễn, mua nước, bảo hiểm, lương cho cán bộ kỹ thuật… ang áng tối thiểu 50 nghìn USD/chuyến.

- Nhà hát có tìm được nguồn thu bù đắp cho những chi phí đó?

- Thường nguồn thu dành cho ban tổ chức. Họ cũng trích lại bồi dưỡng cho đoàn. Tuy nhiên, cũng chẳng đáng là bao. Họ đón mình đã tốn nhiều chi phí rồi. Họ cũng phải “lấy thu bù chi”.

- Theo ông biết, ngoài tiền thu được từ bán vé, ban tổ chức các liên hoan quốc tế lấy kinh phí từ đâu?

- Hầu hết các hoạt động văn hóa ở nước ngoài đều được xã hội hóa. Họ cũng xin tài trợ.

- Liệu đã đến lúc chúng ta không chờ các liên hoan mời mà chủ động tổ chức các đoàn đi?

Một buổi biểu diễn của Nhà hát Múa rối Việt Nam tại Pháp năm 2004. Ảnh: Thúy Nga

- Chúng tôi chưa làm được! Nếu không có cộng tác viên thì đoàn rất khó có thể sang. Đơn cử như việc mỗi nước có luật riêng. Ví dụ như trước khi diễn, họ đo nước, bắt đốt pháo hoa xem có vấn đề gì không. Diễn xong, việc xả nước cũng phải được cho phép. Nhiều vấn đề mà chúng ta khó có thể tự đi. Trong đó, đặc biệt vẫn là vấn đề kinh phí. Hiện tại chúng tôi đang gặp khó khăn với lời mời của Phần Lan. Nếu như diễn 10 buổi ở Phần Lan, mỗi buổi thấp nhất là 500 người xem, 5.000 người Phần Lan sẽ có thiện cảm với Việt Nam sau khi xem. Đó còn chưa kể sự tác động của các phương tiện thông tin đại chúng ở họ. Thế nhưng, bỏ một số tiền cho một đoàn 15 người đi Phần Lan không phải là chuyện nhỏ. Tuy nhiên, nếu so số tiền ấy với hiệu quả có thể đạt được thì số tiền ấy lại không phải là lớn.

Giá trị của văn hóa bao giờ cũng đến sau và lâu dài. Nên nhìn thấy vấn đề như thế và đầu tư cho nó.

- Nhà hát có tìm kiếm tài trợ cho các chuyến lưu diễn nước ngoài?

- Nếu được thì tốt quá! Chúng tôi đang cố gắng hướng ấy mà chưa được. Chúng tôi sẵn sàng gắn thương hiệu của các nhà tài trợ trong các buổi biểu diễn. Doanh nghiệp nào cũng của Việt Nam cả. Dắt tay nhau ra nước ngoài thì có vấn đề gì đâu.

Nếu biết tận dụng các buổi biểu diễn văn hóa truyền thống ở nước ngoài sẽ có thể đem lại hiệu quả đáng kể. Bất cứ liên hoan nào chúng tôi tham gia, tờ chương trình đều in dày đặc tên các nhà tài trợ. Có lẽ vì họ đã sống một thời gian dài với việc đó.

Hơn nữa, để gắn hoạt động kinh doanh với văn hóa, một vài doanh nghiệp tham gia tài trợ chưa đủ. Phải trở thành hẳn một trào lưu, một thế hệ doanh nghiệp yêu thích và biết sử dụng văn hóa để quảng bá thương hiệu. Như trong lĩnh vực bóng đá. Hầu hết các đội bóng đều có doanh nghiệp đứng sau.

- Ông có thể vạch ra một chiến lược quảng bá nghệ thuật truyền thống của chúng ta ra nước ngoài? Chiến lược ấy gồm những yếu tố gì?

- Theo tôi, tất cả những hoạt động quảng bá du lịch, thương mại, thậm chí cả thể thao lớn nên có một chế tài nào đó để kèm nghệ thuật truyền thống thì chúng ta mới có điều kiện quảng bá.

Yếu tố thứ hai, phải chỉ đạo toàn bộ hệ thống thông tin đại chúng, đặc biệt là truyền hình, góp phần tích cực vào việc nâng cao dân trí.

Tôi có thể mở một triển lãm tranh ở một tỉnh lẻ nước Pháp. Nhưng công chúng ở đó và ở Pa-ri như nhau, cả về trình độ thưởng thức và khả năng bỏ tiền ra mua tranh. Nhưng ở ta, mấy họa sĩ dám đi tỉnh khác triển lãm ngoài Hà Nội và TP Hồ Chí Minh? Phải tích cực nâng cao dân trí!

Thứ ba là phổ cập các loại hình nghệ thuật truyền thống. Năm 2001, chúng tôi có một vệt lưu diễn hàng trăm buổi tại các trường phổ thông ở Thụy Sĩ. Trong mỗi buổi, đều có một người ở phía bạn đứng ra giới thiệu. Họ hỏi các em học sinh: “Đây là một hình thức múa rối của Việt Nam. Vậy các em có biết Việt Nam ở đâu không?”. Các học sinh trả lời lung tung. Em thì nói Việt Nam ở gần Pháp, em thì nói Việt Nam ở… châu Phi. Người hướng dẫn khi đó mới giới thiệu: “Đoàn này đến từ Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam. Việt Nam cách chúng ta 10.000 km về phía Đông. Ở Việt Nam người ta trồng lúa nước. Tý nữa các em sẽ xem”.

Vậy là họ biến chương trình của mình thành một bài học ngoại khóa về địa lý, về văn hóa của một quốc gia Á Đông.

- Xin cảm ơn ông!

HUY ĐĂNG thực hiện